0256.3821206 | gialai@nso.gov.vn
Gia Lai: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đạt 8,21%
  •   09/07/2026 08:35

(GLO)- Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng năm 2026 của tỉnh Gia Lai tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước. Con số này tương đồng với bức tranh chung của cả nước, phản ánh rõ xu hướng phục hồi và tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm.Đây là thông tin được đưa ra tại Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh Gia Lai 6 tháng đầu năm 2026, do Thống kê tỉnh tổ chức sáng 8-7.Quang cảnh buổi họp báo. Ảnh: Bình DươngThông tin tại họp báo, trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, Gia Lai vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, ghi nhận sự đóng góp đồng đều của các khu vực kinh tế, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cả năm.Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo khu vực, tăng trưởng được dẫn dắt bởi công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.Cụ thể, khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,14%, đóng góp 0,98 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 11,68%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,17%, đóng góp 3,57 điểm phần trăm.Thu ngân sách tính đến ngày 24-6 đạt hơn 16.270 tỷ đồng, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,26%.Đáng chú ý, khu vực công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng quan trọng. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,74%, cho thấy xu hướng phục hồi sản xuất, tương tự vai trò “đầu tàu” của ngành này trong tăng trưởng kinh tế.Bên cạnh đó, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 15,37%, góp phần bảo đảm năng lực cung ứng cho sản xuất và đời sống.Lãnh đạo Thống kê tỉnh báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Ảnh: Bình DươngHoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch khởi sắc mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung. Đặc biệt, việc tỉnh đăng cai Năm Du lịch quốc gia 2026 đã tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút du khách, kích cầu tiêu dùng và thúc đẩy các ngành dịch vụ liên quan.Toàn tỉnh đón hơn 8,74 triệu lượt khách, tăng 18,5%; tổng thu từ du lịch đạt khoảng 19.000 tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt hơn 108 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 15,1%, vận tải hành khách tăng 23,3%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và du lịch tăng cao.Hoạt động xuất nhập khẩu duy trì đà tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,1 tỷ USD, tăng 6,7%; nhập khẩu đạt gần 554 triệu USD, tăng 13,1%. Một số ngành hàng chủ lực tiếp tục tăng trưởng khá như sản phẩm gỗ, thủy sản, góp phần cải thiện cán cân thương mại.Đầu tư toàn xã hội đạt gần 35.938 tỷ đồng (tăng 8,9%); trong đó khu vực ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng chủ đạo với 67,6%. Điều này cho thấy niềm tin của khu vực tư nhân vào môi trường đầu tư tiếp tục được củng cố. Hoạt động tín dụng ổn định, tổng dư nợ đạt trên 262,5 nghìn tỷ đồng (tăng 13,6%), nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,34%.Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất duy trì ổn định, tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế. Sản lượng lúa Đông Xuân đạt khoảng 512,7 nghìn tấn; chăn nuôi phát triển tích cực theo hướng quy mô trang trại.Công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng được đẩy mạnh với hơn 5.042 ha, cấp mã số vùng trồng và xây dựng chuỗi liên kết tiếp tục nâng cao hiệu quả sản xuất.Hoạt động doanh nghiệp ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực với 1.971 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 42,2%), tổng vốn đăng ký đạt 28.663 tỷ đồng. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng, cho thấy môi trường kinh doanh tiếp tục cải thiện.Bên cạnh những kết quả đạt được, 6 tháng qua, tỉnh vẫn còn một số khó khăn như áp lực chi phí đầu vào, tiến độ giải ngân đầu tư công chưa đồng đều, một số ngành sản xuất còn gặp trở ngại.Phóng viên trao đổi tại buổi họp báo. Ảnh: Bình DươngTại buổi họp báo, lãnh đạo Thống kê tỉnh cũng trao đổi với đại diện các cơ quan báo chí, làm rõ thêm một số nội dung, số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh 6 tháng đầu năm 2026.Trong 6 tháng cuối năm, Gia Lai tiếp tục phát huy các động lực tăng trưởng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, tận dụng hiệu quả các cơ hội từ Năm Du lịch quốc gia 2026.Qua đó, không chỉ góp phần hoàn thành mục tiêu năm 2026, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển trong giai đoạn tiếp theo mà còn đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của cả nước.Nguồn: https://baogialai.com.vn/

Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai 6 tháng đầu năm 2026
  •   08/07/2026 11:30

Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai 6 tháng đầu năm 2026Sáng ngày 08/7/2026, Thống kê tỉnh Gia Lai tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai 6 tháng đầu năm 2026.Quang cảnh buổi họp báo Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng đầu năm tiếp tục duy trì ổn định, nhiều lĩnh vực đạt kết quả tích cực, tạo nền tảng cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của cả năm. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Gia Lai (theo giá so sánh năm 2020) 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 8,21% so với cùng kỳ năm 2025. Trong mức tăng trưởng chung 6 tháng đầu năm 2026 của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,14%, đóng góp 0,98 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,68%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm, trong đó công nghiệp tăng 11,74%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,17%; đóng góp 3,57 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,26%; tăng 0,33 điểm phần trăm. Quy mô nền kinh tế tỉnh Gia Lai ước tính 6 tháng đầu năm 2026 đạt 124,4 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành), tăng 13,7 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có xu hướng tích cực tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp – xây dựng, cụ thể: - Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,76%; - Công nghiệp - xây dựng chiếm 30,36%; trong đó, Công nghiệp chiếm 23,66%; - Dịch vụ chiếm 43,91%; - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,97%. Sản xuất công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của tỉnh, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, riêng lĩnh vực ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,34% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,55%... Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 108.108,7 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳĐại diện các cơ quan báo chí đặt câu hỏi làm rõ các thông tin về số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh 6 tháng đầu năm 2026. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Toàn tỉnh có 1.971 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm 2025; tổng vốn đăng ký đạt 28.663 tỷ đồng, tăng 52,7%. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 14,5 tỷ đồng, tăng 77,68% so với cùng kỳ. Tại buổi họp báo, đại diện các cơ quan báo chí trên địa bàn bày tỏ sự ấn tượng với những chỉ tiêu kinh tế - xã hội nổi bật mà tỉnh Gia Lai đã đạt được trong 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời tham gia các ý kiến làm rõ các thông tin về số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 về một số nội dung, lĩnh vực: Nông, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp- Xây dựng; tiềm năng phát triển du lịch; chính sách thuế đối ứng; vi phạm môi trường… Thông qua buổi họp báo đã giúp tăng cường tính công khai, minh bạch trong công tác thống kê, giúp các cơ quan báo chí, doanh nghiệp, người dân nắm bắt đầy đủ, kịp thời về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội. Thống kê tỉnh Gia Lai

Phát triển mô hình trồng lúa hữu cơ trên địa bàn xã Vạn Đức
  •   25/06/2026 08:41

Xã Vạn Đức hiện có khoảng 5,3 ha lúa hữu cơ. Mô hình sản xuất lúa hữu cơ là phương pháp canh tác hiện đại. Khác với cách trồng lúa truyền thống sử dụng nhiều phân bón hoá học và thuốc trừ sâu, sản xuất lúa hữu cơ ưu tiên sử dụng các nguyên liệu tự nhiên như phân chuồng hoai mục, phân xanh và các biện pháp sinh học để chăm sóc cây lúa. Trong mô hình này, người nông dân không dùng thuốc bảo vệ thực vật hoá học mà thay thế bằng các biện pháp tự nhiên như nuôi thiên địch (cá, vịt) sử sụng chế phẩm sinh học hoặc trồng xen canh để hạn chế sâu bệnh. Đồng thời, đất trồng được cải tạo thường xuyên để tăng độ màu mỡ, giúp cây lúa phát triển khoẻ mạnh một cách tự nhiên. Kỹ thuật canh tác lúa hữu cơ như sau: Về làm đất, cày sớm vùi gốc rạ, kết hợp bón vôi để gốc rạ hoai mục, tiêu diệt cỏ dại và hạn chế sâu bệnh, cày 2 lần, bừa sạch cỏ, nhuyễn bùn sau đó san phẳng mặt ruộng và tạo rãnh thoát nước khoảng 1,5m- 2m theo độ dốc của đám ruộng. Về thời vụ, đối với vụ Đông xuân thường gieo sạ tập trung từ ngày 15/12 đến ngày 25/12 để lúa trỗ tập trung vào đầu tháng 3, còn vụ Hè thu gieo sạ tập trung từ ngày 10/5 đến ngày 25/5 để lúa trỗ tập trung vào cuối tháng 8. Về cơ cấu giống, giống chủ lực cho lúa hữu cơ này là sử dụng giống DV 108, khang dân đột biến, VNR20, đài thơ 8, ĐB6. Giống chất lượng: Hương thơm số 1, hương châu 6, hương xuân, TBR97, VN121. Về lượng giống và kỹ thuật gieo sạ, sử dụng khoảng 50-80 ký/ha (tuỳ theo giống), có nguồn gốc rõ ràng, phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương, thị trường và nhu cầu người tiêu dùng. Về ngâm ủ hạt giống, hạt giống được xử lý theo phương pháp 3 lạnh 2 sôi (540C) trong thời gian 15-20 phút, loại bỏ lép lửng rửa sạch, sau đó ngâm tiếp trong nước sạch. Thời gian ngâm 24-30 giờ, 5-6 giờ thay nước 1 lần sau đó vớt ra rửa sạch, ủ trong 24-30 giờ ở nhiệt độ khoảng 30-350C, khi chiều dài rễ dài bằng 2/3 chiều dài hạt thóc thì mang ra gieo sạ. Đối với sạ hàng hoặc sạ cụm chỉ cần ủ khi mầm nứt nanh (mép sáo) thì đem gieo. Về kỹ thuật bón phân, lượng phân cho 1 ha bao gồm vôi: 400 kg/ha (tương ứng 20 kg/sào), phân lân nung chảy 300 kg tương ứng 15 kg/sào), phân chuồng hoại mục 10 tấn hoặc phân hữu cơ vi sinh 01 tấn (tương ứng 50kg/sào), phân hữu cơ sinh học 2 tấn (tương ứng 100 kg/sào), khi sử dụng nguồn phân hữu cơ tự nhiên, ưu điểm là nâng cao độ phì cho đất, làm đất tơi xốp, các hydrat cabon phân giải chậm thành mùn, axit hữu cơ, các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây, tạo đất xốp, rễ phát triển, giảm sâu bệnh hại, phân hữu cơ còn giúp các bộ phận như cành, lá, cây cứng cáp hơn, lá dày, khả năng thích ứng điều kiện bất lợi tốt hơn, ít sâu bệnh, về nhược điểm, trong phân hữu cơ thường nhả chất dinh dưỡng tương đối chậm rãi, phải ủ kỹ thì cây trồng mới hấp thụ tốt và đạt hiệu quả cao. Về làm cỏ và tỉa dặm, việc kiểm soát cỏ dại dựa trên các biện pháp canh tác như: cày sâu, bừa nhuyễn, làm đất bằng phẳng, duy trì mực nước trong ruộng lúa, để kiểm soát cỏ dại kết hợp làm cỏ bằng tay để diệt cỏ. Quản lý cỏ dại bằng cách sử dụng dụng cụ sạ hàng để dễ dàng làm cỏ bằng tay hoặc cơ giới hóa. Dùng thuốc trừ cỏ sinh học như dấm sinh học (acetic acid), dung dịch muối khoáng thiên nhiên, Green Match, Bio- HerBicicd, chế phẩm từ tinh dầu (cam,quế, chanh), sau đó tiến hành tỉa, dặm ngay sau khi bón phân thúc lần 1 (sau sạ 15 – 17 ngày), nếu diện tích lúa dặm lại tập trung từng mảng lớn trên ruộng, bón thêm phân đạm cá để tăng độ đồng đều trên ruộng, giúp lúa ra rễ nhiều, đẻ nhánh tập trung. Về chế độ điều tiết nước, duy trì đủ ẩm cho đất ở tất các các giai đoạn của cây lúa từ khi gieo đến chín. Sau sạ 4 ngày, sang ngày thứ 5 đưa nước vào ruộng 1-3 cm để hạn chế cỏ dại. Khi bón phân thúc, đưa nước vào ruộng 3 – 5cm phân tan đều và dễ hấp thu vào đất. Kết thúc đẻ nhánh đến làm đòng ( 5-7 cm), từ trỗ bông phơi màu đến chín sữa (5-7 cm), từ chín sáp đến thu hoạch rút kiệt nước ruộng. Về quản lý dịch hại và phòng trừ sâu bệnh, không sử dụng thuốc BVTV hóa học cho sâu ăn lá, rầy, đục thân, ... giai đoạn từ sau gieo đến đứng cái. Trường hợp đặc biệt cần phun, phải có hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật BVTV. Các giai đoạn sau, chỉ sử dụng thuốc khi mật độ sâu cao có khả năng gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất lúa, chỉ sử dụng thuốc trừ sâu sinh học khi cần thiết nhưng có chọn lọc và đúng liều lượng. Về thu hoạch thì khi lúa chín 85% tiến hành thu hoạch lúc nắng ráo. Gặt xong tuốt, phơi khô ở độ ẩm còn dưới 13,5%.  Mô hình trồng lúa hữu cơ mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Giúp bảo vệ môi trường, giảm ô nhiễm đất và nguồn nước; gạo hữu cơ có chất lượng cao, giá trị kinh tế cao, nâng cao thu nhập cho người nông dân. Tuy nhiên, mô hình này cũng gặp một số khó khăn như chi phí đầu tư ban đầu cao, năng suất có thể thấp hơn trong thời gian đầu. Dù vậy, với sự hỗ trợ của khoa học và chính sách phù hợp, sản xuất lúa hữu cơ đang ngày càng được nhân rộng và trở thành xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại./.  Người viết: Nguyễn Thị Bích Phượng - Thống kê viên, Thống kê cơ sở Hoài Ân.

Mô hình tăng trưởng mới: Mở đường băng cho khát vọng tăng trưởng 2 con số
  •   22/06/2026 14:22

Phóng viên: Thưa ông, thời gian qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhiều chuyên gia kinh tế nhắc đến nhiều câu chuyện nền kinh tế Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ tăng trưởng kinh tế theo quy mô chiều rộng sang tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Vậy xin ông cho biết rõ hơn về khái niệm giữa hai mô hình tăng trưởng này?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Có thể hiểu một cách ngắn gọn, tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động và khai thác tài nguyên; còn tăng trưởng theo chiều sâu là tăng trưởng dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.Trong giai đoạn đầu phát triển, hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đều trải qua mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Nhờ huy động mạnh mẽ vốn đầu tư, tận dụng lợi thế lao động dồi dào, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài. Đây cũng là mô hình đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ một nước nghèo trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và quy mô kinh tế thuộc nhóm lớn trong khu vực với quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỷ USD xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN.Tuy nhiên, mô hình này có những giới hạn nhất định. Khi lao động giá rẻ dần mất đi do già hóa dân số, tài nguyên ngày càng hạn chế và hiệu quả đầu tư giảm dần, việc tiếp tục duy trì tăng trưởng cao chỉ bằng cách tăng vốn và lao động sẽ ngày càng khó khăn. Đây là thách thức mà nhiều quốc gia đang phát triển đã gặp phải khi bước vào giai đoạn thu nhập trung bình.Trong khi đó, tăng trưởng theo chiều sâu tập trung vào nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Cùng một lượng vốn và lao động nhưng nền kinh tế có thể tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn nhờ ứng dụng công nghệ mới và đổi mới phương thức sản xuất.Xét về bản chất, sự khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình nằm ở vai trò của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Nếu tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn và lao động thì tăng trưởng theo chiều sâu dựa nhiều hơn vào TFP, tức là phần tăng trưởng được tạo ra từ tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hiệu quả phân bổ nguồn lực.Đối với Việt Nam, việc chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu là yêu cầu khách quan và cấp thiết để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới. Đây cũng là lý do Đại hội XIV của Đảng xác định cần xây dựng mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu.Phóng viên: Ông có thể nói gì về quá trình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam trong thời gian qua? Mô hình tăng trưởng này của Việt Nam chủ yếu dựa vào những động lực nào, đâu là dấu hiệu cho thấy mô hình đó đã tới hạn và những rủi ro sẽ phải đối mặt nếu chúng ta tiếp tục duy trì thực hiện?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Sau Đổi mới, Việt Nam là một trong những quốc gia vận dụng khá thành công mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Trong điều kiện xuất phát điểm thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ và hạ tầng còn yếu kém, việc huy động tối đa các nguồn lực sẵn có đã giúp nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ba động lực chính của mô hình này là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mở rộng đầu tư của Nhà nước và khai thác lợi thế lao động giá rẻ. Nhờ đó, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7%/năm trong giai đoạn 1990-2010 và chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình từ năm 2008.Tuy nhiên, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần suy giảm hiệu quả và bộc lộ những giới hạn khách quan của giai đoạn phát triển mới. Hiệu quả sử dụng vốn có xu hướng giảm khi hệ số ICOR tăng từ khoảng 4 lần lên trên 6 lần, thậm chí có giai đoạn vượt 8 lần; nghĩa là nền kinh tế phải bỏ ra nhiều vốn hơn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng. Trong khi đó, đóng góp của TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2001-2010 chỉ khoảng 10%, cho thấy tăng trưởng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào vốn và lao động.Bên cạnh đó, khu vực FDI đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam; tuy nhiên, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước và lan tỏa công nghệ còn chưa tương xứng với tiềm năng. Năng lực công nghệ nội sinh, hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và khả năng tham gia vào các khâu có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Đồng thời, lợi thế lao động giá rẻ đang giảm dần khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số, còn dư địa mở rộng đầu tư ngày càng thu hẹp. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực cũ, nền kinh tế sẽ khó duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và đối mặt với nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Đây chính là lý do Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.Phóng viên: Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam xác định chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Ông có thể nói rõ hơn về các động lực tăng trưởng của mô hình mới thay thế mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động giá rẻ?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Xét dưới góc độ kinh tế học, bản chất của mô hình tăng trưởng mới là chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Thành công của mô hình tăng trưởng mới sẽ được phản ánh tập trung thông qua sự gia tăng của TFP. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn, lao động, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.Nếu mô hình tăng trưởng trước đây hướng tới mở rộng quy mô nguồn lực thì mô hình mới hướng tới tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực thông qua tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Động lực trung tâm của mô hình này là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khoa học công nghệ tạo ra tri thức và công nghệ mới; đổi mới sáng tạo chuyển các tri thức đó thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới; còn chuyển đổi số giúp lan tỏa nhanh hơn các thành tựu công nghệ vào toàn bộ nền kinh tế. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực sản xuất mới; trí tuệ nhân tạo đang trở thành lực lượng sản xuất mới; còn đổi mới sáng tạo đang trở thành phương thức chủ yếu để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định trong việc hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ. Cùng với đó là các dòng vốn chất lượng cao gắn với nghiên cứu phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước.Mục tiêu của mô hình tăng trưởng mới không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn mà là nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Đây chính là nền tảng để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Phóng viên: Theo ông, làm thế nào để Việt Nam có thể tận dụng hiệu quả các động lực tăng trưởng mới để Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030? Việt Nam có thể học được những bài học kinh nghiệm gì từ các quốc gia châu Á chuyển đổi nền kinh tế thành công, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và gia nhập vào nhóm quốc gia phát triển?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Để khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp trọng tâm.Thứ nhất, tiếp tục đột phá về thể chế, trong nền kinh tế tri thức, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà còn là một nguồn lực phát triển. Cần xây dựng khung pháp lý thuận lợi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.Thứ hai, ưu tiên nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những lĩnh vực trực tiếp tạo ra năng suất mới và nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng.Thứ ba, chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D), các ngành bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ xanh và các dự án có khả năng liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước.Thứ tư, phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, hình thành các doanh nghiệp có năng lực làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, công nghệ lõi và xây dựng thương hiệu trong chuỗi giá trị toàn cầu.Mặc dù có những con đường phát triển khác nhau, nhưng các nền kinh tế thành công ở châu Á đều có một điểm chung là chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên huy động nguồn lực sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo. Hàn Quốc thành công nhờ đầu tư mạnh cho R&D và phát triển các tập đoàn công nghệ toàn cầu; Đài Loan (Trung Quốc) lựa chọn đúng các ngành công nghệ mũi nhọn để tập trung nguồn lực phát triển; Singapore xây dựng thể chế minh bạch, môi trường kinh doanh thuận lợi và nguồn nhân lực chất lượng cao; Israel phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới; còn Trung Quốc đang chuyển mạnh từ “Made in China” sang “Created in China”, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, xe điện và kinh tế số.Đối với Việt Nam, bài học quan trọng nhất là phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp sang từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu, thiết kế và thương hiệu.Xét đến cùng, bản chất của đổi mới mô hình tăng trưởng là nâng cao đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây cũng chính là con đường để tạo ra năng suất mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, duy trì tăng trưởng cao, bền vững trong những thập niên tới và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Nguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn

Thống kê tỉnh Gia Lai kết nghĩa với thôn Dlâm
  •   12/06/2026 11:09

Chiều 11-6, Thống kê tỉnh Gia Lai tổ chức lễ kết nghĩa với thôn Dlâm (xã Chư A Thai).Đại diện lãnh đạo Thống kê tỉnh, UBND xã Chư A Thai và thôn Dlâm ký kết giao ước kết nghĩa. Ảnh: Vũ ChiThôn Dlâm có 174 hộ, 662 nhân khẩu. Chi bộ thôn có 15 đảng viên. Thôn có 8 dân tộc anh em cùng sinh sống gồm: Kinh, Thái, Mường, Tày, Nùng, Bahnar, Jrai và Ngãi. 99,8% số hộ dân làm nông nghiệp nên đời sống còn nhiều khó khăn. Hiện thôn còn 22 hộ nghèo và 35 hộ cận nghèo. Thu nhập bình quân đầu người đạt 30 triệu đồng/người/năm.Tại buổi lễ, đại diện lãnh đạo Thống kê tỉnh, UBND xã Chư A Thai và thôn Dlâm đã ký kết giao ước kết nghĩa với các hoạt động như: Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống; giữ vững an ninh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Lãnh đạo Thống kê tỉnh tặng quà cho cán bộ và nhân dân thôn Dlâm. Ảnh: Vũ ChiCác hoạt động an sinh xã hội cũng được quan tâm như: Huy động và kết nối các nguồn lực xã hội hỗ trợ thôn cải thiện hạ tầng; phát triển kinh tế, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe cộng đồng; giao lưu văn hóa, thể thao.Dịp này, lãnh đạo Thống kê tỉnh đã tặng cán bộ và nhân dân thôn Dlâm một phần quà gồm 1 máy in và giấy A4 để phục vụ công việc chung của thôn.Nguồn: https://baogialai.com.vn/

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
  •   25/05/2026 09:27

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới.Ngày 15/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP quy định chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia. Nghị định được ban hành nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống thông tin thống kê quốc gia theo hướng đồng bộ, hiện đại; nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.Nghị định quy định cụ thể hệ thống chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia; trách nhiệm thu thập, tổng hợp, cung cấp và chia sẻ thông tin thống kê của các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan; đồng thời xác định rõ biểu mẫu, kỳ báo cáo, phương thức gửi báo cáo và cơ chế phối hợp trong cung cấp thông tin thống kê giữa các cơ quan nhà nước.Một trong những nội dung quan trọng của Nghị định số 139/2026/NĐ-CP là quy định cụ thể trách nhiệm báo cáo thống kê của các bộ, ngành và cơ quan liên quan đối với hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia. Theo đó, các bộ, ngành có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê thuộc phạm vi quản lý; bảo đảm cung cấp thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn cho Cục Thống kê theo quy định.Việc phân công rõ trách nhiệm báo cáo giữa các cơ quan góp phần tăng cường tính đầy đủ, chính xác, thống nhất và kịp thời của thông tin thống kê; đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp trong thu thập, tổng hợp và sử dụng dữ liệu phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội.Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định cụ thể hơn về phương thức gửi, nhận và khai thác báo cáo thống kê; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động thống kê; đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê.Việc chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia góp phần giảm trùng lặp trong thu thập thông tin, tiết kiệm thời gian và nguồn lực cho các cơ quan, tổ chức; đồng thời nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ đánh giá tình hình phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và điều hành phát triển ở Trung ương và địa phương.Nghị định cũng tạo cơ sở thuận lợi để tăng cường khai thác dữ liệu hành chính phục vụ công tác thống kê; từng bước hiện đại hóa hệ thống thông tin thống kê quốc gia; nâng cao khả năng kết nối, chia sẻ và sử dụng dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh.Thông tin thống kê được tổng hợp từ hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia là cơ sở quan trọng phục vụ biên soạn hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, GDP, GRDP và nhiều chỉ tiêu kinh tế – xã hội quan trọng khác; đồng thời đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và người dân.Theo quy định, các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia; tăng cường kiểm tra, rà soát và nâng cao chất lượng thông tin thống kê thuộc phạm vi quản lý; bảo đảm việc cung cấp thông tin thống kê được thực hiện đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định.Việc triển khai hiệu quả Nghị định số 139/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng hệ thống thông tin thống kê quốc gia, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; góp phần xây dựng nền thống kê Việt Nam hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả.                            Tổ Truyền thông và Thư viện, Văn phòng Cục Thống kê

Thống kê tỉnh Gia Lai tổ chức lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập ngành Thống kê Việt Nam
  •   05/05/2026 10:49

Chiều 04/5, tại phường Quy Nhơn Nam, Thống kê tỉnh Gia Lai long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập ngành Thống kê Việt Nam (06/5/1946 - 06/5/2026) nhằm ôn lại truyền thống vẻ vang của ngành.Dự lễ có các đồng chí: Dương Mah Tiệp - Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Thống kê các tỉnh: Đắk Lắk, Quảng Ngãi; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Thống kê tỉnh qua các thời kỳ.Quang cảnh buổi lễCách đây 80 năm, ngày 06/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 61/SL thành lập Nha Thống kê Việt Nam thuộc Bộ Quốc dân kinh tế - đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của ngành Thống kê Việt Nam. Từ khi ra đời, ngành Thống kê đã sớm khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế - xã hội (KT-XH) phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước qua các thời kỳ cách mạng.Phó Trưởng Thống kê tỉnh Đỗ Minh Dưỡng đọc Thư chúc mừng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập ngành Thống kê Việt Nam.Trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, vượt qua nhiều giai đoạn khó khăn, thách thức, ngành Thống kê Việt Nam đã không ngừng phát triển về tổ chức, phương pháp và năng lực chuyên môn; từng bước hiện đại hóa, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế; cung cấp nguồn thông tin chính thống, khách quan, trung thực và có độ tin cậy cao.Những đóng góp quan trọng đó đã góp phần thiết thực vào việc hoạch định chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển KT-XH của đất nước và đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao.Trưởng Thống kê tỉnh Phan Quốc Hùng đọc diễn văn kỷ niệm.Cùng với sự phát triển chung của ngành Thống kê cả nước, ngành Thống kê tỉnh Gia Lai trong thời gian qua không ngừng được củng cố, trưởng thành và ngày càng khẳng định rõ vai trò, vị trí trong hệ thống quản lý nhà nước ở địa phương.Thông tin thống kê đã và đang trở thành nguồn dữ liệu chính thống, tin cậy, phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh; là cơ sở quan trọng để các ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, theo dõi tiến độ và đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH.Các sản phẩm thống kê ngày càng được nâng cao chất lượng, từ hệ thống báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ (tháng, quý, 6 tháng, năm), Niên giám thống kê, đến các báo cáo phân tích chuyên đề theo từng lĩnh vực; qua đó cung cấp bức tranh tương đối toàn diện, kịp thời và có chiều sâu về tình hình phát triển của tỉnh.Đặc biệt, ngành Thống kê tỉnh đã chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành tham mưu tính toán, xây dựng nhiều chỉ tiêu KT-XH quan trọng, như: dự báo GRDP giai đoạn 2025 -2030 phục vụ xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh; xác định tổng giá trị sản phẩm cho 135 xã, phường làm cơ sở giao chỉ tiêu và điều hành kế hoạch hằng năm; đồng thời tham gia xây dựng các kịch bản tăng trưởng theo từng ngành, lĩnh vực.Bên cạnh đó, ngành đã tổ chức triển khai nghiêm túc, hiệu quả các cuộc tổng điều tra quy mô lớn như: Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp năm 2025; Tổng điều tra Kinh tế năm 2026 và các cuộc điều tra thường xuyên, bảo đảm tiến độ, chất lượng và an toàn dữ liệu.Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Mah Tiệp phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ.Tại buổi lễ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Mah Tiệp biểu dương và ghi nhận thành tích mà ngành Thống kê tỉnh đã đạt được trong suốt chặng đường 80 năm xây dựng và phát triển.Phó Chủ tịch Dương Mah Tiệp nhấn mạnh: Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh Gia Lai đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, đòi hỏi công tác lãnh đạo, điều hành phải ngày càng chủ động, linh hoạt và chính xác. Trong bối cảnh đó, công tác thống kê cần chuyển mạnh từ chức năng phản ánh, tổng hợp sang phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định; bảo đảm thông tin “đúng - đủ - kịp thời - có chiều sâu”, đáp ứng yêu cầu điều hành trong tình hình mới.Trong thời gian tới, Phó Chủ tịch Dương Mah Tiệp đề nghị ngành Thống kê tỉnh tiếp tục tranh thủ sự lãnh đạo, hướng dẫn về chuyên môn của Trung ương; chủ động phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành và địa phương trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ; thống nhất phương pháp tính, quy trình thu thập và tổng hợp số liệu, bảo đảm số liệu “một nguồn - một chuẩn - một đầu mối công bố”.Bên cạnh đó, ngành Thống kê cần tiếp tục nâng cao chất lượng thông tin thống kê theo hướng phục vụ trực tiếp điều hành: chuẩn hóa hệ thống báo cáo KT-XH định kỳ; nâng cao chất lượng ước tính GRDP, phân tích cơ cấu ngành, năng suất lao động; xây dựng, cập nhật kịch bản tăng trưởng theo quý, theo ngành; theo dõi sát tiến độ thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu và kịp thời cảnh báo những biến động lớn ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng của tỉnh.Ngành Thống kê cũng cần xây dựng, cập nhật và kết nối cơ sở dữ liệu thống kê của tỉnh với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; ứng dụng công nghệ số trong thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu. Tăng cường công bố dữ liệu trên nền tảng số, bảo đảm công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và đáp ứng đa dạng nhu cầu của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân. Tiếp tục củng cố tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ làm công tác thống kê có bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi chuyên môn, am hiểu thực tiễn, có tư duy đổi mới và tinh thần trách nhiệm cao…UBND tỉnh sẽ luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để ngành Thống kê hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh Gia Lai.Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Mah Tiệp (thứ 2, bên phải sang) trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho tập thể Thống kê tỉnh Gia Lai.Dịp này, Thống kê tỉnh Gia Lai nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh vì đã có nhiều đóng góp tích cực trong hoạt động thống kê trên địa bàn tỉnh, góp phần phát triển KT-XH của tỉnh Gia Lai.Nguồn: Cổng thông tin điện tử

Chặng đường 80 năm vẻ vang ngành thống kê Việt Nam
  •   01/05/2026 16:52

Năm 2026 này đánh dấu chặng đường 80 năm vẻ vang của ngành thống kê Việt Nam, ghi dấu sự ra đời của Nha Thống kê Việt Nam – tiền thân của Cục Thống kê ngày nay. Phát huy truyền thống, ngành thống kê tiếp tục vững bước, xứng đáng đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trong kỷ nguyên mới hiện nay.Năm 2026 ghi dấu chặng đường vẻ vang 80 năm ngành thống kê Việt Nam. (Ảnh: HNV)Kỷ niệm 80 năm ngành thống kê Việt Nam (6/5/1946-6/5/2026), chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) khẳng định: Ngay trong thời gian đầu của chính quyền cách mạng, giữa muôn vàn khó khăn của thời kỳ "thù trong, giặc ngoài", Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt coi trọng vai trò của công tác thống kê.Theo đó, ngày 6/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký ban hành Sắc lệnh số 61/SL, thành lập Nha Thống kê Việt Nam nằm trong Bộ Quốc dân Kinh tế. Đây không chỉ là mốc son lịch sử, đánh dấu sự ra đời của ngành thống kê cách mạng Việt Nam, khẳng định vai trò không thể thiếu của thống kê trong quản lý nhà nước và phát triển kinh tế-xã hội, mà còn mở ra một hành trình gần 80 năm đồng hành cùng đất nước, trải qua kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập toàn cầu.Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Thống kê là tai, là mắt của Đảng và Nhà nước”. Câu nói của Bác dung dị, mộc mạc, nhưng rất sâu sắc về hoạt động thống kê: Tai phải thính, mắt phải tinh; nếu tai không thính, mắt không tinh sẽ dẫn đến số liệu không sát thực tế, không đầy đủ, kịp thời, khiến các cơ quan hoạch định chính sách dễ đi sai đường và hậu quả để lại sẽ rất lớn....Hay như Cố Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng cũng từng nói: “Số liệu thống kê không phải là con số chết, mỗi con số thống kê đều có ý nghĩa của nó, linh hồn của nó, tình hình nước mình thể hiện trong con số, tương lai ở trong con số, kế hoạch cũng ở trong con số”.Theo Cục trưởng Hương, sự khẳng định về vai trò, nhiệm vụ của ngành Thống kê từ những lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược về vai trò của thống kê trong quản trị quốc gia, mà còn là “kim chỉ nam” cho toàn ngành thống kê suốt chặng đường phát triển.Nhìn lại những mốc son vẻ vang của ngành thống kê 80 năm qua“80 năm đồng hành cùng dân tộc, ngành thống kê không chỉ thu thập thông tin và phản ánh thực trạng kinh tế-xã hội mà còn tiên phong xây dựng hệ thống thông tin kỹ thuật số, ứng dụng phương pháp luận thống kê tiên tiến, minh bạch và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chính sách phát triển. Dữ liệu thống kê không chỉ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, mà còn là cơ sở để hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương và cả nước trong từng giai đoạn”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương nhận định.Cụ thể, trong chiến tranh chống Pháp, thực hiện khẩu hiệu “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, Đảng và Nhà nước rất cần những thông tin thống kê toàn diện, kịp thời và độ tin cậy cao để kịp thời đề ra các quyết sách đúng đắn, ngành thống kê đã triển khai nhiều cuộc điều tra, tập trung thu thập và báo cáo các thông tin về nông nghiệp, đất đai, thống kê công-thương nghiệp ở vùng tự do giúp lãnh đạo cấp trung ương và địa phương đưa ra các quyết sách phân phối, sử dụng nguồn lực hợp lý.Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, dù còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và nhân lực, để thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin thống kê, ngành thống kê đã triển khai được nhiều cuộc điều tra đồng thời thực hiện nhiều báo cáo thống kê chuyên đề, đi sâu vào một số lĩnh vực cũng như tình hình thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước phục vụ trực tiếp cho việc điều hành, đề ra các quyết sách đúng đắn...“Đây là nền tảng vững chắc để khi bước vào thời kỳ bao cấp và đổi mới, ngành thống kê giữ vững vai trò là cầu nối giữa hệ thống kế hoạch hóa tập trung và chuyển đổi kinh tế thị trường. Công tác thống kê các loại hình kinh tế, từ doanh nghiệp nhà nước đến kinh tế tư nhân đã quy hoạch nguồn lực, hỗ trợ cải tổ. Dữ liệu thống kê kinh tế vĩ mô như GDP, CPI, tích lũy, tiêu dùng, xuất, nhập khẩu… trở thành cơ sở pháp lý để soạn thảo chính sách đổi mới”, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh.Giai đoạn đổi mới kể từ năm 1991, Việt Nam gia nhập WTO, ASEAN và các tổ chức thống kê quốc tế, phương pháp hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) đã chính thức được áp dụng thống nhất trên phạm vi quốc gia, thay thế hệ thống cân đối vật chất (MPS), các cuộc điều tra chuyên đề để thu thập thông tin phục vụ tính toán các chỉ tiêu tổng hợp như tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia sử dụng (NDI) được triển khai, bài bản, quy mô toàn quốc.Bước sang thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số, ngành thống kê đã tích cực đổi mới toàn diện từ thể chế, phương pháp, quy trình sản xuất số liệu đến ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI). Việc thiết lập hệ thống thống kê quốc gia hiện đại, tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước giai đoạn 2021-2030 đã và đang được đẩy mạnh. Công nghệ thông tin, dữ liệu lớn (big data), AI được ngành thống kê áp dụng mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích và phổ biến số liệu, thông tin thống kê.Có thể thấy, suốt quá trình phát triển đất nước, ngành thống kê được xác định là bộ phận không thể thiếu của Đảng, Nhà nước. Đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao, từ khi được thành lập đến nay, ngành thống kê đã cung cấp thông tin chính xác, khách quan và kịp thời phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành.Các cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở, Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp, Tổng điều tra Kinh tế, Điều tra Doanh nghiệp, Điều tra Mức sống dân cư… và nhiều cuộc điều tra khác được tổ chức quy mô lớn, bài bản và ngày càng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu và minh bạch hóa thông tin. Trên cơ sở bằng chứng xác thực, khoa học từ con số thống kê Đảng và Nhà nước đã đưa ra những quyết sách quan trọng phát triển đất nước.Không ngừng đổi mới thống kê vì mục tiêu phát triển nhanh, bền vững chungKhông chỉ trong khuôn khổ quốc gia, ngành thống kê Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức thống kê khu vực và quốc tế. Việt Nam hiện là thành viên của nhiều diễn đàn thống kê quốc tế, đồng thời chủ động tham gia vào hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững (SDGs) toàn cầu, từ đó góp phần nâng cao vị thế và uy tín của ngành thống kê Việt Nam trên trường quốc tế. Những chỉ tiêu thống kê (GDP, CPI, IIP, FDI,…) là ngôn ngữ toàn cầu, giúp cho bạn bè quốc tế hiểu Việt Nam rõ hơn qua những số liệu, thông tin thống kê.Cục trưởng Nguyễn Thị Hương chia sẻ, thông tin, dữ liệu thống kê biểu hiện qua các chỉ tiêu thống kê không chỉ mang tính khoa học, chuyên môn, chuyên sâu mà còn có tính toàn cầu, thống nhất về tiêu chuẩn và phương pháp luận trên toàn thế giới nhằm bảo đảm so sánh và hội nhập quốc tế. Thông tin, dữ liệu thống kê chính xác, khách quan, minh bạch sẽ góp phần khẳng định uy tín, vị thế và tiềm lực của mỗi quốc gia, qua đó tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư, các đối tác phát triển, thúc đẩy và thu hút hợp tác, đầu tư.Năm 2025, thực hiện công cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, trở thành cơ quan thuộc Bộ Tài chính, với vai trò là cơ quan trung tâm, chủ đạo và điều phối toàn bộ hệ thống thống kê quốc gia của Việt Nam, Cục Thống kê giữ vai trò đầu mối, chủ trì phối hợp các đơn vị trong và ngoài Bộ, xây dựng các chỉ tiêu thống kê quốc gia, chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội phục vụ điều hành của Chính phủ và chính quyền địa phương, chỉ tiêu thống kê hằng ngày phục vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư… Chủ động tăng cường phối hợp liên ngành và địa phương nhằm nắm bắt thông tin xuyên suốt và kịp thời; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, triển khai phần mềm thu thập thông tin, cơ sở dữ liệu tập trung; phân tích và dự báo kịch bản tăng trưởng kinh tế, tác động của một số chính sách đến tăng trưởng kinh tế.Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh mẽ, khó lường và rất khó dự báo; hoạt động kinh tế-xã hội phát triển kéo theo phát sinh thêm nhiều ngành nghề mới, lĩnh vực mới, phức tạp hơn, đa dạng hơn, nhiệm vụ của ngành thống kê ngày càng nặng nề.Ngành Thống kê cam kết tiếp tục phấn đấu, đổi mới, hiện đại hóa và minh bạch hóa thông tin, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Với vai trò là cơ quan Thống kê quốc gia, ngành thống kê cung cấp số liệu GDP, CPI, FDI, … giúp Chính phủ, Bộ Tài chính xác định mục tiêu trung và dài hạn trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội; dữ liệu về thu chi ngân sách do cơ quan Thống kê công bố góp phần quan trọng giúp Chính phủ, Bộ Tài chính và các địa phương phân bổ vốn đúng vùng “đói nghèo”, hỗ trợ an sinh.Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương.Trên cơ sở đó, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương bày tỏ, ngành Thống kê cam kết tiếp tục phấn đấu, đổi mới, hiện đại hóa và minh bạch hóa thông tin, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Với vai trò là cơ quan Thống kê quốc gia, ngành thống kê cung cấp số liệu GDP, CPI, FDI, … giúp Chính phủ, Bộ Tài chính xác định mục tiêu trung và dài hạn trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội; dữ liệu về thu chi ngân sách do cơ quan Thống kê công bố góp phần quan trọng giúp Chính phủ, Bộ Tài chính và các địa phương phân bổ vốn đúng vùng “đói nghèo”, hỗ trợ an sinh.Tới đây, ngành thống kê tiếp tục xác định nhiệm vụ trọng tâm là cầu nối dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của dữ liệu thống kê, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các đối tượng sử dụng khác. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê mở, liên thông, phục vụ kinh tế số, xã hội số là định hướng xuyên suốt trong chiến lược phát triển của ngành. Trong đó, ngành thống kê tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành, địa phương, củng cố niềm tin của nhân dân và cộng đồng quốc tế về các số liệu, quyết tâm tiếp tục phát triển xứng với niềm tin và vai trò lịch sử của mình.Nguồn: nhandan.vn

80 năm ngành Thống kê: Phát huy truyền thống, tiếp tục xứng đáng "Là tai, là mắt của Đảng và Nhà nước"
  •   20/04/2026 10:46

Với nền tảng truyền thống vẻ vang, sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, ngành thống kê tiếp tục vững bước, xứng đáng “là tai, là mắt của Đảng và nhà nước” trong phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trong kỷ nguyên mới hiện nay.Kỷ niệm 80 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 cũng đánh dấu chặng đường gần 80 năm ngành thống kê Việt Nam nói riêng và 80 năm ngành tài chính Việt Nam nói chung, Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính).Từ Sắc lệnh thành lập Nha Thống kê Việt Nam năm 1946Phóng viên: Thưa Cục trưởng, cùng với dấu mốc thành lập nước, trong gần tám mươi năm qua, ngành thống kê đã hình thành và phát triển như thế nào?Lễ ra quân Tổng điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 ngày 1/4/2024 tại Hà Nội.Tiến sĩ, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Thống kê là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống quản lý nhà nước nói chung và quản lý tài chính quốc gia nói riêng, nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập ngành Tài chính Việt Nam, những người làm công tác thống kê xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Tài chính và sự phối hợp hiệu quả của các ban, bộ, ngành và địa phương, sự ủng hộ của người dân, doanh nghiệp và cộng đồng người sử dụng thông tin thống kê trong nước và quốc tế.Ngay trong thời gian đầu của chính quyền cách mạng, giữa muôn vàn khó khăn của thời kỳ "thù trong, giặc ngoài", Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt coi trọng vai trò của công tác thống kê. Ngày 6/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký ban hành Sắc lệnh số 61/SL, thành lập Nha Thống kê Việt Nam nằm trong Bộ Quốc dân Kinh tế. Đây không chỉ là mốc son lịch sử, đánh dấu sự ra đời của ngành thống kê cách mạng Việt Nam, khẳng định vai trò không thể thiếu của thống kê trong quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội, mà còn mở ra một hành trình gần 80 năm đồng hành cùng đất nước, trải qua kháng chiến, xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập toàn cầu.Gần 80 năm đồng hành cùng dân tộc, ngành thống kê không chỉ thu thập thông tin và phản ánh thực trạng kinh tế-xã hội mà còn tiên phong xây dựng hệ thống thông tin kỹ thuật số, ứng dụng phương pháp luận thống kê tiên tiến, minh bạch và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chính sách phát triển. Dữ liệu thống kê không chỉ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, mà còn là cơ sở để hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương và cả nước trong từng giai đoạn.Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Thống kê là tai, là mắt của Đảng và Nhà nước”. Câu nói của Bác dung dị, mộc mạc, nhưng rất sâu sắc về hoạt động thống kê: “tai phải thính, mắt phải tinh; nếu tai không thính, mắt không tinh sẽ dẫn đến số liệu không sát thực tế, không đầy đủ, kịp thời, khiến các cơ quan hoạch định chính sách dễ đi sai đường và hậu quả để lại sẽ rất lớn...”Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Hay như Cố Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng cũng từng nói: Số liệu thống kê không phải là con số chết, mỗi con số thống kê đều có ý nghĩa của nó, linh hồn của nó, tình hình nước mình thể hiện trong con số, tương lai ở trong con số, kế hoạch cũng ở trong con số.Những câu nói này không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược về vai trò của thống kê trong quản trị quốc gia, mà còn là kim chỉ nam cho toàn ngành thống kê trong suốt chặng đường phát triển.Trong chiến tranh chống Pháp, thực hiện khẩu hiệu “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, Đảng và Nhà nước rất cần những thông tin thống kê toàn diện, kịp thời và độ tin cậy cao để kịp thời đề ra các quyết sách đúng đắn, ngành thống kê đã triển khai nhiều cuộc điều tra, tập trung thu thập và báo cáo các thông tin về nông nghiệp, đất đai, thống kê công, thương nghiệp ở vùng tự do giúp lãnh đạo cấp trung ương và địa phương đưa ra các quyết sách phân phối, sử dụng nguồn lực hợp lý.Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, dù còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và nhân lực, để thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin thống kê, ngành thống kê đã triển khai được nhiều cuộc điều tra đồng thời thực hiện nhiều báo cáo thống kê chuyên đề, đi sâu vào một số lĩnh vực cũng như tình hình thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước phục vụ trực tiếp cho việc điều hành, đề ra các quyết sách đúng đắn...Người dân mua hàng tại Bách hóa Tổng hợp (nơi thực hiện chế độ khoán thu nhập). (Ảnh: TTXVN)Đây là nền tảng vững chắc để khi bước vào thời kỳ bao cấp và đổi mới, ngành thống kê giữ vững vai trò là cầu nối giữa hệ thống kế hoạch hóa tập trung và chuyển đổi kinh tế thị trường. Công tác thống kê các loại hình kinh tế, từ doanh nghiệp nhà nước đến kinh tế tư nhân đã quy hoạch nguồn lực, hỗ trợ cải tổ. Dữ liệu thống kê kinh tế vĩ mô như GDP, CPI, tích lũy, tiêu dùng, xuất-nhập khẩu… trở thành cơ sở pháp lý để soạn thảo chính sách đổi mới.Thống kê là bộ phận không thể thiếu của Đảng, Nhà nước trong mọi thời kỳPhóng viên: Có thể thấy, ngành thống kê đã sát cánh cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với cương vị là người đứng đầu Ngành, Bà có đồng tình với nhận định “thống kê là bộ phận không thể thiếu của Đảng, Nhà nước trong mọi thời kỳ” hay không? Căn cứ nào cho lập luận đó, thưa bà?Tiến sĩ, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Giai đoạn đổi mới kể từ năm 1991, Việt Nam gia nhập WTO, ASEAN và các tổ chức thống kê quốc tế, phương pháp hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) đã chính thức được áp dụng thống nhất trên phạm vi quốc gia, thay thế hệ thống cân đối vật chất (MPS), các cuộc điều tra chuyên đề để thu thập thông tin phục vụ tính toán các chỉ tiêu tổng hợp như tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia sử dụng (NDI) được triển khai, bài bản, quy mô toàn quốc.Bước sang thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số, ngành thống kê đã tích cực đổi mới toàn diện từ thể chế, phương pháp, quy trình sản xuất số liệu đến ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI). Việc thiết lập hệ thống thống kê quốc gia hiện đại, tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2021 - 2030 đã và đang được đẩy mạnh. Công nghệ thông tin, dữ liệu lớn (big data), AI được ngành thống kê áp dụng mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích và phổ biến số liệu, thông tin thống kê.Trong suốt quá trình phát triển đất nước, ngành thống kê được xác định là bộ phận không thể thiếu của Đảng, Nhà nước trong mọi thời kỳ. Đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao, kể từ khi được thành lập đến nay, ngành thống kê đã cung cấp thông tin chính xác, khách quan và kịp thời phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành. Các cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở, Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp, Tổng điều tra Kinh tế, Điều tra Doanh nghiệp, Điều tra Mức sống dân cư… và nhiều cuộc điều tra khác được tổ chức quy mô lớn, bài bản và ngày càng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu và minh bạch hóa thông tin. Trên cơ sở bằng chứng xác thực, khoa học từ con số thống kê Đảng và Nhà nước đã đưa ra những quyết sách quan trọng phát triển đất nước.Không chỉ trong khuôn khổ quốc gia, ngành thống kê Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức thống kê khu vực và quốc tế. Việt Nam hiện là thành viên của nhiều diễn đàn thống kê quốc tế, đồng thời chủ động tham gia vào hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững (SDGs) toàn cầu, từ đó góp phần nâng cao vị thế và uy tín của ngành thống kê Việt Nam trên trường quốc tế. Những chỉ tiêu thống kê (GDP, CPI, IIP, FDI,…) là ngôn ngữ toàn cầu, giúp cho bạn bè quốc tế hiểu Việt Nam rõ hơn qua những số liệu, thống tin thống kê.Thông tin, dữ liệu thống kê biểu hiện qua các chỉ tiêu thống kê không chỉ mang tính khoa học, chuyên môn, chuyên sâu mà còn có tính toàn cầu, thống nhất về tiêu chuẩn và phương pháp luận trên toàn thế giới nhằm đảm bảo so sánh và hội nhập quốc tế. Thông tin, dữ liệu thống kê chính xác, khách quan, minh bạch sẽ góp phần khẳng định uy tín, vị thế và tiềm lực của mỗi quốc gia, qua đó tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư, các đối tác phát triển, thúc đẩy và thu hút hợp tác, đầu tư.Khi đến làm việc với Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) vào tháng 7/2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao vai trò của ngành thống kê trong việc “cung cấp thông tin trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ và kịp thời” để phục vụ công tác chỉ đạo điều hành. Thủ tướng nhấn mạnh: “Số liệu thống kê là căn cứ rất quan trọng để đánh giá đúng tình hình, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội. Nếu số liệu không chính xác dẫn đến nhận định sai, từ đó ra quyết định không hiệu quả”.Thủ tướng Phạm Minh chính cho rằng, thống kê không có “số đẹp” hay “số xấu” mà chỉ có số liệu khách quan. Con số thống kê phải “biết nói”, ngoài thống kê đơn thuần phải có phân tích, nhận định, dự báo để con số khô khan biết nói… Con số biết nói rồi thì phải sử dụng để những con số thống kê góp phần quan trọng trong việc quản lý, điều hành hiệu quả, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo Hội nghị Thống kê toàn quốc năm 2022.Đổi mới, hiện đại hóa và minh bạch hóa thông tinPhóng viên: Vậy theo bà, ngành cần phải làm gì để củng cố cũng như góp phần vào phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước ta hiện nay?Tiến sĩ, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Từ khi trở thành cơ quan thuộc Bộ Tài chính, với vai trò là cơ quan trung tâm, chủ đạo và điều phối toàn bộ hệ thống thống kê quốc gia của Việt Nam, Cục Thống kê giữ vai trò đầu mối, chủ trì phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ xây dựng các chỉ tiêu thống kê quốc gia, chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội phục vụ điều hành của Chính phủ và chính quyền địa phương, chỉ tiêu thống kê hàng ngày phục vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư… Chủ động tăng cường phối hợp liên ngành và địa phương nhằm nắm bắt thông tin xuyên suốt và kịp thời; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, triển khai phần mềm thu thập thông tin, cơ sở dữ liệu tập trung; phân tích và dự báo kịch bản tăng trưởng kinh tế, tác động của một số chính sách đến tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh mẽ, khó lường và rất khó dự báo; hoạt động kinh tế, xã hội phát triển kéo theo phát sinh thêm nhiều ngành nghề mới, lĩnh vực mới, phức tạp hơn, đa dạng hơn, nhiệm vụ của ngành thống kê ngày càng nặng nề.Ngành Thống kê cam kết tiếp tục phấn đấu, đổi mới, hiện đại hóa và minh bạch hóa thông tin, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Với vai trò là cơ quan Thống kê quốc gia, ngành thống kê cung cấp số liệu GDP, CPI, FDI, … giúp Chính phủ, Bộ Tài chính xác định mục tiêu trung và dài hạn trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội; dữ liệu về thu chi ngân sách do cơ quan Thống kê công bố góp phần quan trọng giúp Chính phủ, Bộ Tài chính và các địa phương phân bổ vốn đúng vùng “đói nghèo”, hỗ trợ an sinh.Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính).Trong suốt chặng đường 80 năm hình thành và phát triển, ngành thống kê Việt Nam đã khẳng định vai trò là cơ quan cung cấp thông tin chính thức, tin cậy và kịp thời, góp phần đáng kể vào công cuộc lãnh đạo, điều hành, quy hoạch và đánh giá phát triển kinh tế-xã hội của Đảng, Nhà nước. Từ những bản thống kê trên giấy được thực hiện bằng công cụ thô sơ đến hệ thống dữ liệu số hiện đại, từ vai trò hỗ trợ xây dựng và đánh giá các chỉ tiêu kế hoạch thời bao cấp đến cung cấp đầy đủ các chỉ tiêu quốc gia phục vụ điều hành nền kinh tế trong thời đại số, ngành thống kê luôn đồng hành và góp phần quyết định vào thành tựu chung của đất nước.Trong thời gian tới, ngành thống kê tiếp tục xác định nhiệm vụ trọng tâm là cầu nối dữ liệu, nâng cao chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của dữ liệu thống kê, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các đối tượng sử dụng khác. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê mở, liên thông, phục vụ kinh tế số, xã hội số là định hướng xuyên suốt trong chiến lược phát triển của Ngành.Ngành thống kê tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành, địa phương, củng cố niềm tin của nhân dân và cộng đồng quốc tế về các số liệu, quyết tâm tiếp tục phát triển xứng với niềm tin và vai trò lịch sử của mình. Với nền tảng truyền thống vẻ vang, sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Bộ Tài chính, ngành thống kê sẽ tiếp tục vững bước, xứng đáng là tai, là mắt của Đảng và nhà nước trong phát triển kinh tế-xã hội.Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Cục trưởng về cuộc trò chuyện!Sẵn sàng cho Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn 2025Các điểm cầu thống kê trên cả nước họp trực tuyến.Tài liệu phục vụ tuyên truyền Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn 2025.Các điều tra viên đến tận hộ dân tại Thanh Hóa để thu thập dữ liệu phục vụ Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn 2025.Nguồn: nhandan.vn