0256.3821206 | gialai@nso.gov.vn
Điều tra I/O năm 2026: Xây dựng "bản đồ" liên kết của nền kinh tế, nâng chất lượng GDP, GRDP
  •   13/09/2026 15:03

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản Quốc gia cho biết, kết quả Điều tra I/O năm 2026 không chỉ phục vụ xây dựng Bảng cân đối liên ngành và cập nhật hệ số chi phí trung gian, còn giúp nhận diện rõ hơn cấu trúc, mức độ liên kết, sức lan tỏa giữa các ngành và những yếu tố tác động đến giá trị gia tăng của nền kinh tế.Phóng viên: Thưa bà, vì sao nói Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026 (Điều tra IO năm 2026) là một trong những cuộc điều tra chuyên đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hệ thống thống kê quốc gia?Bà Nguyễn Thị Mai HạnhTrưởng ban Hệ thống Tài khoản Quốc giaBà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Điều tra thu thập thông tin lập Bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi đây là cuộc điều tra cung cấp thông tin chuyên sâu để “giải phẫu” cấu trúc của nền kinh tế, làm rõ mối quan hệ sản xuất và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngành kinh tế/nhóm ngành sản phẩm.Nếu GDP, GRDP cho chúng ta biết quy mô nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ở cấp quốc gia và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thì Bảng cân đối liên ngành (I/O) giúp trả lời sâu hơn: Để tạo ra một sản phẩm, mỗi ngành cần sử dụng những nguyên liệu, hàng hóa và dịch vụ đầu vào nào, với giá trị bao nhiêu; đầu vào đó được sản xuất trong nước hay có nguồn gốc nhập khẩu; sản phẩm đầu ra của một ngành tiếp tục được sử dụng như thế nào trong các ngành kinh tế khác và cho nhu cầu cuối cùng của nền kinh tế. Đây chính là “bản đồ” thể hiện dòng luân chuyển sản phẩm và mối liên kết giữa các ngành trong nền kinh tế.Điều tra IO năm 2026, là cuộc điều tra lần thứ 6 kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới và áp dụng biên soạn các chỉ tiêu theo chuẩn Hệ thống Tài khoản quốc gia (SNA) thay cho Hệ thống cân đối vật chất (MPS). Điều tra nhằm thu thập thông tin chi tiết về kết quả sản xuất kinh doanh và cơ cấu chi phí đầu vào theo 181 nhóm ngành sản phẩm, bao quát các khu vực quan trọng của nền kinh tế như doanh nghiệp phi tài chính; doanh nghiệp tài chính - ngân hàng - bảo hiểm - chứng khoán; đơn vị hành chính sự nghiệp; cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản; hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; hộ tiêu dùng sản phẩm vật chất và dịch vụ; tổ chức không vì lợi... Các thông tin này là cơ sở trực tiếp để lập Bảng I/O, Bảng Nguồn và Sử dụng, đồng thời biên soạn hệ số chi phí trung gian cho cả nước và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.Một ý nghĩa rất quan trọng khác là kết quả điều tra giúp cập nhật hệ số chi phí trung gian, là chỉ tiêu quan trọng để biên soạn GDP và GRDP trong giai đoạn tới. Trong thực tế, cơ cấu đầu vào của nền kinh tế luôn thay đổi cùng với công nghệ, giá nguyên vật liệu, phương thức tổ chức sản xuất, thuê ngoài và chuỗi cung ứng. Việc cập nhật đầy đủ các quan hệ chi phí mới sẽ giúp xác định sát hơn giá trị tăng thêm của từng ngành và của toàn bộ nền kinh tế.Đồng thời, Bảng I/O còn là công cụ quan trọng để đánh giá sức lan tỏa và mức độ liên kết giữa các ngành, nhận diện những ngành có vai trò động lực, mức độ phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và khả năng tạo giá trị gia tăng trong nước. Qua đó, có thể phân tích tác động của chính sách như: Đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, thay đổi giá, điều chỉnh mức lương hay một chính sách phát triển ngành tới sản xuất và tăng trưởng của toàn nền kinh tế.Nhìn chung, Điều tra I/O năm 2026 không chỉ nhằm thu thập số liệu để lập một bảng thống kê, mà quan trọng hơn là xây dựng một “bức tranh cấu trúc” của nền kinh tế Việt Nam. Kết quả điều tra sẽ là nguồn thông tin nền tảng để nâng cao chất lượng GDP, GRDP, phục vụ phân tích, dự báo và cung cấp bằng chứng thống kê cho việc hoạch định, điều hành chính sách phát triển kinh tế trong giai đoạn mới.Phóng viên: Những loại thông tin nào từ các doanh nghiệp và đơn vị sản xuất cần được thu thập để biên soạn Bảng cân đối liên ngành và hệ số chi phí trung gian năm 2026?Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Đối với Điều tra I/O nói chung và năm 2026 nói riêng, thông tin cần thu thập từ doanh nghiệp và các đơn vị sản xuất kinh doanh không chỉ là doanh thu hay tổng chi phí, mà quan trọng nhất là phải làm rõ “sản xuất sản phẩm gì, tạo ra bao nhiêu và để sản xuất ra sản phẩm đó đã sử dụng những đầu vào nào”.Bên cạnh thông tin định danh, các nhóm thông tin chính được thu thập từ cuộc điều tra này gồm:Thứ nhất, thông tin về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thu thập thông tin về sản phẩm, ngành sản phẩm chính; doanh thu, giá trị sản xuất và một số thông tin liên quan đến kết quả sản xuất kinh doanh như sản phẩm dở dang, tồn kho; đồng thời thu thập các thông tin đặc thù đối với từng ngành, lĩnh vực thuộc các đối tượng điều tra. Việc xác định đúng sản phẩm chính rất quan trọng vì thông tin chi phí sẽ được gắn với sản phẩm cụ thể theo hệ thống 181 nhóm ngành sản phẩm I/O.Thứ hai, thông tin chi tiết về các yếu tố đầu vào và chi phí sản xuất, đây là nội dung cốt lõi của cuộc điều tra. Các đơn vị được điều tra cần cung cấp những khoản chi thực tế để tạo ra sản phẩm như: Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, điện, nước; chi phí vận tải, kho bãi; chi phí thông tin - truyền thông, viễn thông; chi phí về tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; chi phí thuê máy móc, nhà xưởng; sửa chữa; quảng cáo; dịch vụ chuyên môn và các hàng hóa, dịch vụ đầu vào khác. Đối với doanh nghiệp, thông tin còn được khai thác từ các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và quản lý liên quan đến sản phẩm chính. Đây là cơ sở để xác định mỗi ngành cần sử dụng bao nhiêu sản phẩm của các ngành khác để tạo ra một đơn vị sản phẩm của mình, từ đó hình thành các hệ số chi phí trung gian.Thứ ba, thu thập một số thông tin bổ sung cần thiết để xác định đúng các luồng giao dịch trong nền kinh tế, như tiền lương, tiền công và các khoản chi cho người lao động, thuế và trợ cấp sản phẩm, khấu hao tài sản cố định, lãi vay và đặc biệt là nguồn gốc nhập khẩu của hàng hóa, dịch vụ đầu vào đối với các nhóm đối tượng có yêu cầu thu thập.Các đơn vị điều tra có đặc thù hoạt động riêng, do vậy thông tin thu thập không giống nhau hoàn toàn đối với mọi đơn vị. Phiếu hỏi được thiết kế phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng đơn vị điều tra khác nhau đảm bảo bao quát đầy đủ hoạt động của từng loại đơn vị.Ví dụ, đối với lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, điều tra còn thu thập riêng các khoản chi phí đặc thù của hoạt động tín dụng, bảo hiểm và chứng khoán.Nhìn chung, có thể hiểu một cách đơn giản, Điều tra I/O cần trả lời được ba câu hỏi: nền kinh tế sản xuất ra những sản phẩm gì; để sản xuất ra các sản phẩm đó cần sử dụng những hàng hóa, dịch vụ đầu vào nào; và các đầu vào đó được cung cấp từ ngành nào, từ sản xuất trong nước hay nhập khẩu. Khi tổng hợp các thông tin này theo 181 nhóm ngành sản phẩm, chúng ta có thể xây dựng được một “ma trận” phản ánh dòng sản phẩm và mối liên kết đầu vào - đầu ra giữa các ngành trong nền kinh tế. Đây là cơ sở để lập Bảng cân đối liên ngành và cập nhật hệ số chi phí trung gian, phục vụ biên soạn GDP, GRDP cũng như phân tích cơ cấu kinh tế và hoạch định chính sách.Phóng viên: Đến nay tiến độ Điều tra IO năm 2026 đang được triển khai như thế nào thưa Bà?Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Đến thời điểm hiện tại, Điều tra I/O năm 2026 đang được triển khai theo đúng kế hoạch, các công việc chuẩn bị đã được hoàn thành và cuộc điều tra đang bước vào giai đoạn thu thập thông tin tại các đơn vị điều tra. Thời gian thu thập tại địa bàn từ ngày 15/8/2026 và kết thúc vào ngày 30/9/2026.Đây là cuộc điều tra chuyên đề, chuyên sâu có nội dung khó, phức tạp, phạm vi rộng, thu thập thông tin chi tiết theo 181 nhóm ngành sản phẩm I/O và trên nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Vì vậy, trước khi triển khai chính thức, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) đã dành thời gian chuẩn bị kỹ từ xây dựng phương án, thiết kế và hoàn thiện hệ thống phiếu điều tra, tài liệu hướng dẫn, xây dựng dàn mẫu, phần mềm thu thập thông tin đến tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng tham gia điều tra. Nội dung điều tra được thiết kế riêng phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đơn vị điều tra khác nhau.Hiện nay, trọng tâm là tổ chức thu thập thông tin tại các đơn vị được chọn mẫu, đồng thời thực hiện kiểm tra, giám sát và hỗ trợ nghiệp vụ trong suốt quá trình điều tra. Do nhiều chỉ tiêu của Điều tra I/O khá chuyên sâu, đặc biệt là việc bóc tách chi phí đầu vào theo từng nhóm sản phẩm, dịch vụ và theo sản phẩm chính của đơn vị, nên yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo đảm tiến độ mà quan trọng hơn là chất lượng và tính chính xác của thông tin thu thập. Chẳng hạn, đối với doanh nghiệp, nhiều thông tin phải được khai thác, đối chiếu từ sổ kế toán và các tài khoản chi tiết liên quan đến nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, bán hàng và quản lý.Sau giai đoạn thu thập thông tin, số liệu sẽ tiếp tục được kiểm tra, làm sạch, tổng hợp và cân đối để phục vụ biên soạn hệ số chi phí trung gian và xây dựng Bảng cân đối liên ngành. Có thể nói, Điều tra I/O năm 2026 đang được triển khai với yêu cầu rất cao về chất lượng, bởi kết quả của cuộc điều tra sẽ là nguồn thông tin đầu vào quyết định phục vụ việc xây dựng Bảng nguồn và sử dụng (SUT), Bảng I/O, cũng như phân tích sâu cấu trúc và mối liên kết liên ngành của nền kinh tế trong giai đoạn tới.Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) Đỗ Thị Ngọc dự phỏng vấn tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong Điều tra I/O năm 2026.Phóng viên: Kết quả của Điều tra IO năm 2026 có ý nghĩa như thế nào đối với việc phân tích cơ cấu kinh tế, đánh giá mối quan hệ giữa các ngành và xây dựng chính sách phát triển kinh tế?Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Kết quả Điều tra I/O năm 2026 có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ giúp chúng ta nhìn rõ cấu trúc và mối liên kết giữa các ngành hiện nay, mà còn cung cấp một trong những cơ sở dữ liệu nền tảng để biên soạn, cân đối và nâng cao chất lượng GDP, GRDP trong giai đoạn tới.Trước hết, kết quả điều tra là nguồn thông tin chủ yếu để xây dựng Bảng cân đối liên ngành (I/O), phản ánh một cách hệ thống quá trình sản phẩm của ngành này được sử dụng làm đầu vào cho ngành khác và cuối cùng được sử dụng cho tiêu dùng, đầu tư hay xuất khẩu như thế nào. Với thông tin chi tiết theo 181 nhóm ngành sản phẩm, Bảng I/O cho phép nhìn sâu vào cấu trúc sản xuất, cơ cấu sử dụng sản phẩm và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngành trong nền kinh tế.Đặc biệt, Bảng I/O là công cụ quan trọng để biên soạn và cân đối GDP theo ba phương pháp: phương pháp sản xuất, phương pháp sử dụng cuối cùng và phương pháp thu nhập. Thông qua hệ thống cân đối giữa nguồn và sử dụng sản phẩm, giữa đầu vào và đầu ra của các ngành, Bảng I/O giúp đối chiếu, phát hiện và xử lý những chênh lệch giữa các nguồn thông tin, qua đó bảo đảm tính nhất quán của GDP xét từ ba góc độ: GDP được tạo ra như thế nào, được sử dụng vào đâu và thu nhập được hình thành, phân phối trong quá trình sản xuất ra sao. Đây là giá trị rất quan trọng của Bảng I/O đối với việc nâng cao chất lượng Hệ thống tài khoản quốc gia.Bên cạnh đó, Bảng I/O cho phép lượng hóa mối liên kết và sức lan tỏa giữa các ngành kinh tế. Chúng ta có thể đánh giá khi một ngành mở rộng sản xuất thì sẽ tạo thêm nhu cầu đối với nguyên liệu, nhiên liệu, điện, dịch vụ vận tải, logistics và các dịch vụ hỗ trợ như thế nào; từ đó xác định những ngành có liên kết mạnh, khả năng dẫn dắt và tạo tác động lan tỏa lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Thông tin chi tiết về các hàng hóa, dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất mà cuộc điều tra thu thập chính là cơ sở để xác lập những quan hệ này.Kết quả điều tra cũng giúp đánh giá sâu hơn chất lượng và tính tự chủ của tăng trưởng. Thông qua cơ cấu chi phí và nguồn gốc của các đầu vào, có thể phân tích ngành nào tạo ra nhiều giá trị tăng thêm trong nước, ngành nào còn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu và sản phẩm nhập khẩu, qua đó nhận diện những mắt xích cần củng cố trong chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị.Từ góc độ hoạch định chính sách, Bảng I/O còn là công cụ quan trọng để phân tích và mô phỏng tác động của các chính sách kinh tế. Ví dụ, có thể đánh giá việc tăng đầu tư, mở rộng xuất khẩu, thúc đẩy tiêu dùng, chính sách tăng lương, điều chỉnh giá các mặt hàng hoặc phát triển một ngành sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp như thế nào đến sản xuất, giá trị tăng thêm, nhập khẩu và các ngành có liên quan. Đây là cơ sở định lượng quan trọng để lựa chọn các ngành, lĩnh vực có khả năng tạo giá trị tăng thêm và sức lan tỏa cao, tăng cường liên kết trong nước và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.Tóm lại, chúng ta có thể hình dung Bảng I/O như một “bản đồ vận hành và ma trận liên kết của nền kinh tế”. Bảng I/O không chỉ giúp chúng ta biết nền kinh tế tạo ra và sử dụng sản phẩm như thế nào, mà còn là công cụ quan trọng để cân đối GDP theo ba phương pháp sản xuất, tiêu dùng và thu nhập, đánh giá mối liên kết và sức lan tỏa giữa các ngành, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho phân tích, dự báo và hoạch định chính sách phát triển kinh tế.Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!Nguồn: tapchikinhtetaichinh.vn

Tập trung cao độ thực hiện mục tiêu tăng trưởng 10,2%
  •   09/09/2026 09:21

Sáng 8/9, đồng chí Phạm Anh Tuấn - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến đánh giá tình hình kinh tế - xã hội (KT-XH) tháng 8, triển khai nhiệm vụ trọng tâm tháng 9 và các tháng cuối năm 2026.Dự hội nghị tại trụ sở UBND tỉnh có Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Tuấn Thanh và các Phó Chủ tịch UBND tỉnh: Nguyễn Tự Công Hoàng, Nguyễn Thị Thanh Lịch, Nguyễn Hữu Quế; các đồng chí Ủy viên UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, Hiệp hội.Dự hội nghị tại các điểm cầu trực tuyến có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành; Bí thư, Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND các xã, phường trong tỉnh.Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn phát biểu chỉ đạo.Theo báo cáo tại hội nghị, trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2026, KT-XH của tỉnh tiếp tục duy trì đà phát triển trên hầu hết các lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất cơ bản duy trì ổn định. Các địa phương đã hoàn thành kế hoạch gieo trồng vụ Hè Thu. Trong kỳ, được cấp mới 35 mã số vùng trồng và 7 mã số cơ sở đóng gói. Tính đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 436 mã số vùng trồng, với diện tích trên 13.000 ha và 60 mã số cơ sở đóng gói trái cây xuất khẩu. Về thủy sản, sản lượng tháng 8 đạt 31.349 tấn; tổng sản lượng 8 tháng ước đạt 216.399 tấn, đạt 68,9% kế hoạch và tăng 2,5% so với cùng kỳ. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; chống khai thác IUU; quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường tiếp tục được tăng cường.Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cao Thanh Thương (bìa phải) phát biểu tại hội nghị.​Bên cạnh đó, sản xuất công nghiệp tiếp tục có bước chuyển biến tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8/2026 ước tăng 4,86% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, IIP ước tăng 7,84%. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,09%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 5,42%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 0,5%; riêng ngành khai khoáng giảm nhẹ 0,07%.Trong tháng 8, có 4 dự án tại các Khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư trên 242 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng, có 69 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn 9.516 tỷ đồng; trong đó, có 15 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 8.376 tỷ đồng. Công tác quản lý đầu tư xây dựng, vật liệu xây dựng, quy hoạch - kiến trúc và phát triển đô thị tiếp tục được tăng cường.Giám đốc Sở Công Thương Dương Minh Đức đề xuất các giải pháp nâng cao chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 9.Hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 ước đạt 20.556 tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng ước đạt 150.578 tỷ đồng, tăng 14,4%.Lĩnh vực du lịch tiếp tục khởi sắc, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong tháng 8, toàn tỉnh ước đón 1,86 triệu lượt khách, tăng 61% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng đầu năm, tổng lượng khách du lịch ước đạt 12,41 triệu lượt, tăng 24,8%; tổng doanh thu du lịch ước đạt 26.810 tỷ đồng, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2025.Công tác thu hút đầu tư đạt nhiều kết quả nổi bật. Riêng trong tháng 8, tỉnh đã thu hút mới 19 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 9.818 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thu hút 198 dự án, vượt 16,47% kế hoạch đề ra và tăng 46,67% so với cùng kỳ; tổng vốn đầu tư đạt hơn 180.000 tỷ đồng, gấp 2,42 lần so với cùng kỳ năm trước.Thu ngân sách nhà nước tiếp tục đạt kết quả tích cực. Tính đến ngày 31/8, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh đạt 20.153 tỷ đồng, bằng 72,3% dự toán năm, tăng 15,8% so với cùng kỳ.Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm và đạt nhiều kết quả tích cực; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững, ổn định. Công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp.Chánh Văn phòng UBND tỉnh Nguyễn Xuân Vĩnh báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính.Tiến độ thực hiện nhiệm vụ thường xuyên do UBND tỉnh giao có nhiều chuyển biến tích cực. Trong tháng 8, các cơ quan, địa phương đã hoàn thành 1.041 nhiệm vụ; trong đó, hoàn thành 681/1.040 nhiệm vụ được giao ngay trong tháng 8 và hoàn thành 360/927 nhiệm vụ từ kỳ trước chuyển sang.Về giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính, tỷ lệ hồ sơ được tiếp nhận trực tuyến của tỉnh đạt 98,6%; tỷ lệ hồ sơ đã giải quyết đúng và trước hạn đạt 97%. Lũy kế 8 tháng, toàn tỉnh tiếp nhận 694.423 hồ sơ, trong đó 671.180 hồ sơ trực tuyến, đạt tỷ lệ 97%; đã hoàn thành xử lý 697.706 hồ sơ, trong đó 668.444 hồ sơ trước và đúng hạn, đạt tỷ lệ 96%.Tại hội nghị, các đại biểu tập trung phân tích những điểm nghẽn trong quy trình xử lý công việc và năng lực thực thi tại một số cơ quan, đơn vị; những khó khăn trong công tác thu hút đầu tư hạ tầng và phát triển các khu, cụm công nghiệp, cũng như trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện thủ tục về đất đai, tài nguyên; hạn chế của một số doanh nghiệp, nhà đầu tư… Đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, khai thác tối đa các dư địa tăng trưởng của từng ngành, từng lĩnh vực. Đại diện các hội, hiệp hội kiến nghị tỉnh quan tâm tháo gỡ những vướng mắc về đất đai, quy hoạch, giải phóng mặt bằng, thuế; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại, chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn FSC, PEFC… nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu.Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Tuấn Thanh (bìa trái) yêu cầu đẩy nhanh số hóa, chuẩn hóa và cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai.Kết luận hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn lưu ý, dư địa cần khai thác trong các tháng còn lại rất lớn; một số ngành, sản phẩm, dự án và nguồn lực chưa phát huy đầy đủ hiệu quả, đòi hỏi phải nhận diện đúng các điểm nghẽn và có giải pháp chỉ đạo, điều hành quyết liệt, cụ thể hơn trong thời gian tới.Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương tập trung khắc phục ngay những tồn tại trong tổ chức thực hiện, đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, điều hành, khai thác tối đa các dư địa tăng trưởng, tập trung cao độ thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 từ 10,2% trở lên.Từng ngành phải xác định rõ các yếu tố có khả năng tạo thêm giá trị trong các tháng còn lại; thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, TFP, chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn vào sản xuất, kinh doanh. Tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án, tạo năng lực tăng trưởng mới. Đôn đốc các dự án đang triển khai, nhất là các công trình, dự án trọng điểm, dự án có quy mô lớn và khả năng tạo giá trị tăng thêm trong năm 2026. Quyết tâm giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công; rà soát từng dự án, từng chủ đầu tư, kịp thời xử lý các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, đất đai, vấn đề liên quan đến đất rừng, vật liệu, tái định cư, năng lực nhà thầu và thủ tục đầu tư.Quang cảnh hội nghịCùng với đó, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, điều hành theo hướng sâu sát, cụ thể và kiến tạo phát triển. Quán triệt và tích cực triển khai Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới.Các sở, ban, ngành địa phương rà soát, phân công lại nhiệm vụ cho từng cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức sử dụng hiệu quả thời giờ làm việc, tập trung xử lý công việc được giao, nhất là hồ sơ của người dân, doanh nghiệp và các nhiệm vụ có thời hạn. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm thực thi; mỗi nhiệm vụ phải thực hiện theo tinh thần “6 rõ”, gắn với sản phẩm, thời hạn và người chịu trách nhiệm. Tập trung cải cách thủ tục hành chính, rà soát, cắt giảm các khâu trung gian, quy trình không cần thiết; rút ngắn thực chất thời gian giải quyết hồ sơ, nhất là trong các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, tài chính và môi trường.Chủ tịch Phạm Anh Tuấn cũng lưu ý hoàn thiện phương án phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn năm 2026; phòng chống dịch bệnh trong các tháng cuối năm; đảm bảo an sinh xã hội; giữ vững an ninh quốc phòng trên địa bàn toàn tỉnh.Về nhiệm vụ trọng tâm, Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã rà soát, tổ chức lại sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; tập trung phát triển vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc. Rà soát các dự án chăn nuôi, đôn đốc các dự án đủ điều kiện sớm triển khai, đưa vào hoạt động, phát huy công suất. Phát triển rừng trồng gỗ lớn, cây dược liệu dưới tán rừng, kinh tế rừng, tín chỉ các-bon và các mô hình nông nghiệp xanh, tuần hoàn. Tiếp tục thực hiện quyết liệt các giải pháp chống khai thác IUU; quản lý chặt tàu cá, thiết bị giám sát hành trình và nguồn gốc thủy sản; đồng thời nghiên cứu phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng tạo thêm sản lượng, giá trị và sinh kế bền vững.Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng công nghiệp, nâng TFP, đổi mới công nghệ, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn. Đẩy nhanh các dự án điện, năng lượng tái tạo và hệ thống truyền tải, nhất là các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, đang lựa chọn nhà đầu tư hoặc hoàn thiện thủ tục. Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng trong xây dựng, phát triển vật liệu xanh, vật liệu tái chế, cát nhân tạo, tận dụng phế thải xây dựng và phụ phẩm mỏ đá; rà soát, công bố kịp thời giá vật liệu, bảo đảm nguồn cung cho các công trình trọng điểm, góp phần giảm chi phí đầu tư và tạo thêm giá trị cho ngành. Tăng cường quản lý trật tự đô thị và phương tiện vận tải, taxi phục vụ du khách.Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Thống kê tỉnh và các sở, ngành theo dõi sát kết quả từng khu vực kinh tế, ngành, lĩnh vực, chỉ tiêu và địa bàn. Điều chỉnh, bổ sung phương án về khai thác, xử lý đối với các cơ sở nhà đất là tài sản công dôi dư tại các cơ quan, đơn vị; đẩy nhanh đấu giá các khu đất đủ điều kiện, xứ lý tài sản công dôi dư sau sắp xếp.Hội nghị được kết nối trực tuyến với điểm cầu các sở, ban, ngành, địa phương trong tỉnh.Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức hiệu quả các hoạt động, sự kiện còn lại của Năm Du lịch quốc gia 2026; đẩy nhanh việc triển khai các chuyến bay charter quốc tế đến Cảng hàng không Phù Cát; triển khai các giải pháp nhằm thay đổi căn bản chất lượng dịch vụ du lịch.Sở Khoa học và Công nghệ tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các địa phương rà soát, sắp xếp học sinh, lớp học và điểm trường phù hợp với quy mô dân số, khoảng cách đi lại và điều kiện cơ sở vật chất, bảo đảm thuận lợi cho học sinh, không để phát sinh tình trạng quá tải hoặc sử dụng cơ sở vật chất kém hiệu quả. Đẩy nhanh Dự án trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 07 xã biên giới. Thực hiện phương châm hành động của ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2026-2027: “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất”.Sở Nội vụ tiếp tục hoàn thiện, vận hành hệ thống đánh giá nhiệm vụ theo KPI. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh chủ trì rà soát, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, chậm tiến độ, chậm đưa vào sử dụng trong khu kinh tế, khu công nghiệp; hỗ trợ dự án có năng lực sớm triển khai, đồng thời kiên quyết đề xuất thu hồi, chấm dứt đối với dự án không còn khả năng thực hiện.Lực lượng Công an, Quân sự phối hợp chặt chẽ với các địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường an toàn, ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội.Đối với UBND các xã, phường, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn yêu cầu tiếp tục rà soát, bố trí cán bộ đúng chuyên môn, năng lực; Bí thư, Chủ tịch phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó, việc liên ngành, các điểm nghẽn kéo dài.Các địa phương cần tập trung đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, tái định cư và giải ngân đầu tư công. Chủ động hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; chuẩn bị mặt bằng, tháo gỡ kịp thời các thủ tục thuộc thầm quyền, đôn đốc các dự án triển khai đúng tiến độ; tăng cường quản lý đất đai, khoáng sản, môi trường, quy hoạch và trật tự xây dựng. Cùng với đó, thường xuyên phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT-XH của địa phương.Tác giả: Kim LoanBiên tập: Thùy TrangNguồn: https://gialai.gov.vn

GIA LAI TỔ CHỨC TẬP HUẤN NGHIỆP VỤ ĐIỀU TRA IO NĂM 2026
  •   14/08/2026 07:30

Thực hiện Quyết định số 1124/QĐ-CTK ngày 11/9/2025 của Cục trưởng Cục Thống kê và Kế hoạch số 31/KH-TKT ngày 20/7/2026 của Thống kê tỉnh Gia Lai về điều tra thu thập thông tin lập Bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026 (điều tra IO), Thống kê tỉnh Gia Lai tổ chức tập huấn nghiệp vụ điều tra IO năm 2026 cho lãnh đạo, công chức Thống kê cơ sở và đội ngũ điều tra viên trên địa bàn tỉnh.Toàn cảnh Hội nghị tập huấn nghiệp vụ Điều tra IO năm 2026 Điều tra thu thập thông tin lập Bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026 (điều tra IO) là một trong những cuộc điều tra thuộc Chương trình điều tra thống kê quốc gia. Cuộc điều tra nhằm thu thập thông tin phục vụ lập Bảng cân đối liên ngành năm 2025, biên soạn hệ số chi phí trung gian, phục vụ Hệ thống tài khoản quốc gia, đồng thời cung cấp nguồn thông tin quan trọng cho công tác phân tích, đánh giá và dự báo tình hình kinh tế - xã hội, hỗ trợ hoạch định chính sách trong giai đoạn mới.Đây là cuộc điều tra có nội dung nghiệp vụ chuyên sâu, phạm vi thu thập thông tin rộng, liên quan đến nhiều nhóm ngành và loại hình hoạt động kinh tế. Do đó, việc tổ chức tập huấn nghiệp vụ có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất nhận thức, phương pháp và quy trình thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng thông tin thống kê ngay từ khâu thu thập.Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Phan Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh Gia Lai nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa và yêu cầu của công tác tập huấn nghiệp vụ đối với việc triển khai Điều tra IO năm 2026 và đề nghị các đại biểu nghiêm túc tiếp thu nội dung được hướng dẫn, chủ động trao đổi những vấn đề chưa rõ, tập trung nghiên cứu phương án điều tra và thực hành các thao tác trên phần mềm; qua đó từng bước nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, khả năng xử lý tình huống thực tế và bảo đảm thực hiện điều tra thống nhất, đúng quy định.Ông Phan Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh Gia Lai phát biểu khai mạc Hội nghị tập huấn.Các đơn vị được phổ biến phương án điều tra, hướng dẫn quy trình thu thập thông tin theo từng nhóm đối tượng, sử dụng phần mềm giám sát dữ liệu, đồng thời trao đổi, giải đáp vướng mắc, thực hành phỏng vấn và nhập số liệu vào phần mềm. Nội dung bám sát hướng dẫn của Cục Thống kê.Đợt tập huấn góp phần nâng cao năng lực cho đội ngũ thực hiện Điều tra IO năm 2026, bảo đảm thu thập thông tin đầy đủ, chính xác, đáp ứng yêu cầu biên soạn Bảng cân đối liên ngành, Hệ thống tài khoản quốc gia và hoạch định chính sách trong giai đoạn mới.Một số hình ảnh tại Hội nghị Tập huấnPhòng Thống kê Tổng hợp - Thống kê tỉnh Gia Lai

Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
  •   10/08/2026 10:01

Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nướcY học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.Ngày 20/5/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã có buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế, các ban, bộ, ngành Trung ương về phát triển ngành y học cổ truyền Việt Nam. Kết luận buổi làm việc được Văn phòng Trung ương Đảng thông báo tại Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026.Thông báo khẳng định Việt Nam có nền y học cổ truyền đặc sắc, được kết tinh từ tri thức, văn hóa và kinh nghiệm của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử. Từ tư tưởng “Nam dược trị nam nhân” của Đại danh y Tuệ Tĩnh đến di sản y học của Hải Thượng Lãn Ông, cha ông ta đã để lại một kho tàng y học cổ truyền quý giá. Y học cổ truyền không chỉ có vai trò chữa bệnh mà còn coi trọng dưỡng sinh, điều hòa khí huyết, cân bằng âm dương và nâng cao khả năng tự phục hồi của cơ thể.Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về chăm sóc sức khỏe Nhân dân, trong đó đề cao việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Hệ thống khám, chữa bệnh y học cổ truyền tiếp tục được củng cố; nhiều bài thuốc, phương pháp điều trị được phát huy; công tác phát triển dược liệu, đào tạo nhân lực và kết hợp Đông - Tây y có bước tiến bộ. Tuy nhiên, tiềm năng của y học cổ truyền vẫn chưa được khai thác đầy đủ, chưa tạo được hệ sinh thái phát triển, thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia tương xứng.Thông báo nhấn mạnh, y học cổ truyền không chỉ liên quan đến bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.Để thực hiện mục tiêu trên, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp được yêu cầu tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:Một là, đặt phát triển y học cổ truyền trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước giai đoạn mới. Chuyển mạnh tư duy từ “quản lý chuyên môn y tế” sang “phát triển hệ sinh thái y học cổ truyền quốc gia”, gắn với phát triển kinh tế sức khỏe và sức mạnh mềm quốc gia. Phát huy lợi thế về đa dạng sinh học, nguồn dược liệu, tri thức dân gian và văn hóa dưỡng sinh; nghiên cứu phát triển các trung tâm du lịch chăm sóc sức khỏe, khu dưỡng sinh, làng và vùng dược liệu gắn với sinh kế, giảm nghèo bền vững, du lịch sinh thái và bảo tồn văn hóa.Hai là, chuyển mạnh từ tư duy “chữa bệnh” sang “chăm sóc sức khỏe toàn diện”. Phát huy thế mạnh của y học cổ truyền trong phòng bệnh, dưỡng sinh, nâng cao thể trạng, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi, điều trị bệnh mạn tính và chăm sóc sức khỏe tinh thần. Chuẩn hóa các mô hình chăm sóc sức khỏe không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt tại xã, phường và khuyến khích lan tỏa những biện pháp chăm sóc sức khỏe hiệu quả không dùng thuốc.Ba là, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Khẩn trương số hóa kho tàng bài thuốc gia truyền, tri thức y học dân tộc; xây dựng và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về y học cổ truyền; tăng cường nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng, chuẩn hóa bài thuốc, vị thuốc và phương pháp điều trị. Đồng thời, hỗ trợ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu quốc gia cho các bài thuốc, sản phẩm có giá trị và củng cố các trung tâm y học cổ truyền mạnh tầm quốc gia, khu vực.Bốn là, phát triển công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế chiến lược quốc gia. Xây dựng đồng bộ chuỗi giá trị từ giống, vùng trồng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc đến chiết xuất, bào chế, sản xuất, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu. Quy hoạch vùng trồng dược liệu trọng điểm theo tiêu chuẩn GAP, đẩy mạnh chế biến sâu theo tiêu chuẩn GMP quốc tế, kiểm soát chất lượng, khắc phục tình trạng dược liệu giả, kém chất lượng và phụ thuộc nhập khẩu.Năm là, tạo đột phá trong phát triển mô hình y học tích hợp Đông - Tây y theo hướng y học thực chứng. Xây dựng các phác đồ điều trị tích hợp được chuẩn hóa trên cơ sở khoa học và thực tiễn lâm sàng; tăng cường nghiên cứu, kiểm chứng hiệu quả điều trị bằng bằng chứng khoa học và xây dựng đội ngũ thầy thuốc có khả năng kết hợp hài hòa y lý cổ truyền với thành tựu y học hiện đại.Sáu là, phát triển đồng bộ hệ sinh thái y dược cổ truyền và nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời giữ gìn y đức. Nhà nước giữ vai trò định hướng, hoàn thiện thể chế và kiểm soát chất lượng; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực của doanh nghiệp và khu vực tư nhân. Tăng cường quản lý hoạt động hành nghề, chất lượng dược liệu, thuốc và quảng cáo; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, trục lợi trên sức khỏe Nhân dân. Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ thầy thuốc vừa giỏi chuyên môn, am hiểu y học hiện đại, vừa giữ vững y đức, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Lương y phải như từ mẫu”.Bảy là, đẩy mạnh xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam, gắn với kinh tế sức khỏe, du lịch chữa bệnh, xuất khẩu sản phẩm và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.Tám là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về y học cổ truyền. Đảng ủy Bộ Y tế được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham mưu trình Chính phủ, Quốc hội; đồng thời xây dựng, trình Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, hoàn thành trong năm 2026; rà soát, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản chỉ đạo của Ban Bí thư về lĩnh vực y học cổ truyền.Việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trên nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị quý báu của y học cổ truyền, đồng thời đưa y học cổ truyền Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, khoa học, hội nhập, trở thành nguồn lực quan trọng trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân, phát triển kinh tế và quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam.                                    Tổ Truyền thông và Thư viện, Văn phòng Cục Thống kê

Công bố kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026
  •   08/08/2026 13:16

(gialai.gov.vn) - Sáng 07/8, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế (TĐTKT) 2026 tỉnh Gia Lai tổ chức hội nghị tổng kết và công bố kết quả sơ bộ TĐTKT năm 2026. Đồng chí Nguyễn Tuấn Thanh - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì hội nghị. Hội nghị được kết nối trực tuyến với điểm cầu các Thống kê cơ sở trong tỉnh.Quang cảnh hội nghịTheo báo cáo tại hội nghị, đến cuối tháng 4/2026, tỉnh Gia Lai đã hoàn thành 100% khối lượng công việc của cuộc TĐTKT, rút ngắn khoảng 07 tháng so với kế hoạch ban đầu, bảo đảm yêu cầu về tiến độ, chất lượng và tính đồng bộ của thông tin.Toàn tỉnh đã hoàn thành điều tra 160.953 cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể; 19.064 doanh nghiệp, hợp tác xã; 331 đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, hội, hiệp hội; 840 cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. Dữ liệu sau thu thập đã được kiểm tra logic, xác minh, làm sạch, nghiệm thu và bàn giao theo quy định.Theo kết quả sơ bộ, quy mô khu vực kinh tế của tỉnh tiếp tục được mở rộng. Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 13.367 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 41,2% so với năm 2020; thu hút trên 225.000 lao động; tổng nguồn vốn đạt trên 581.000 tỷ đồng, doanh thu thuần trên 418.000 tỷ đồng. Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực; dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng và một số lĩnh vực có lợi thế tiếp tục phát triển.Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Tuấn Thanh phát biểu tại hội nghị.Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Tuấn Thanh ghi nhận, biểu dương Thống kê tỉnh (cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh), các sở, ban, ngành, địa phương, đội ngũ điều tra viên, tổ trưởng, giám sát viên và các đơn vị điều tra đã nỗ lực, phối hợp trách nhiệm, góp phần vào thành công của cuộc Tổng điều tra.Từ nay đến thời điểm công bố kết quả chính thức, dự kiến trong quý IV/2026, Phó Chủ tịch Thường trực Nguyễn Tuấn Thanh yêu cầu ngành Thống kê tiếp tục rà soát, xác minh, làm sạch dữ liệu theo kết quả nghiệm thu và hướng dẫn của Trung ương; đối chiếu với Tổng điều tra kinh tế năm 2021, hệ thống số liệu thống kê chính thức và các nguồn dữ liệu chuyên ngành. Đồng thời, cần hoàn thiện hồ sơ, tài liệu bàn giao, biên soạn các ấn phẩm và báo cáo phân tích chuyên sâu; bảo đảm kết quả chính thức chính xác, thống nhất, có khả năng khai thác cao và phục vụ thiết thực công tác chỉ đạo, điều hành, xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.Các sở, ngành phối hợp đối chiếu, xác nhận thông tin, nghiên cứu kết quả điều tra để phục vụ xây dựng, điều chỉnh cơ chế, chính sách phát triển ngành, lĩnh vực.UBND các xã, phường tiếp tục rà soát, xác minh các trường hợp còn chênh lệch, đồng thời khai thác hiệu quả kết quả điều tra phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.Trưởng Thống kê tỉnh Phan Quốc Hùng báo cáo kết quả sơ bộ TĐTKT năm 2026.Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cuộc điều tra thống kê quốc gia quy mô lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; nhằm thu thập đầy đủ, khách quan thông tin về các cơ sở kinh tế, qua đó đánh giá đúng số lượng, quy mô, lao động, nguồn vốn, kết quả sản xuất kinh doanh, mức độ ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số.Kết quả Tổng điều tra là nguồn dữ liệu quan trọng để biên soạn các chỉ tiêu thống kê, nhất là GDP, GRDP; đánh giá quy mô, cơ cấu nền kinh tế và phục vụ xây dựng, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.Điểm nổi bật của cuộc Tổng điều tra lần này là việc ứng dụng công nghệ thông tin được thực hiện trong tất cả các khâu, từ chuẩn bị, thu thập, kiểm tra, xử lý đến nghiệm thu dữ liệu; đồng thời, tăng cường điều hành trên môi trường số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xác định mã ngành và sử dụng bản đồ số để theo dõi tiến độ theo thời gian thực.Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Tuấn Thanh (thứ 2, từ trái sang) trao Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính cho Thống kê tỉnh Gia Lai.Dịp này, Thống kê tỉnh Gia Lai và 04 cá nhân nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính vì đã có thành tích xuất sắc trong triển khai thực hiện TĐTKT năm 2026; 05 tập thể và 14 cá nhân nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh vì đã có thành tích xuất sắc trong triển khai thực hiện Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh.Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Tuấn Thanh (thứ 4, từ phải sang) trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho các cá nhân.Nguồn: gialai.gov.vn

Gia Lai: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đạt 8,21%
  •   09/07/2026 08:35

(GLO)- Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng năm 2026 của tỉnh Gia Lai tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước. Con số này tương đồng với bức tranh chung của cả nước, phản ánh rõ xu hướng phục hồi và tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm.Đây là thông tin được đưa ra tại Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh Gia Lai 6 tháng đầu năm 2026, do Thống kê tỉnh tổ chức sáng 8-7.Quang cảnh buổi họp báo. Ảnh: Bình DươngThông tin tại họp báo, trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, Gia Lai vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, ghi nhận sự đóng góp đồng đều của các khu vực kinh tế, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cả năm.Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo khu vực, tăng trưởng được dẫn dắt bởi công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.Cụ thể, khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,14%, đóng góp 0,98 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 11,68%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,17%, đóng góp 3,57 điểm phần trăm.Thu ngân sách tính đến ngày 24-6 đạt hơn 16.270 tỷ đồng, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,26%.Đáng chú ý, khu vực công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng quan trọng. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,74%, cho thấy xu hướng phục hồi sản xuất, tương tự vai trò “đầu tàu” của ngành này trong tăng trưởng kinh tế.Bên cạnh đó, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 15,37%, góp phần bảo đảm năng lực cung ứng cho sản xuất và đời sống.Lãnh đạo Thống kê tỉnh báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Ảnh: Bình DươngHoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch khởi sắc mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung. Đặc biệt, việc tỉnh đăng cai Năm Du lịch quốc gia 2026 đã tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút du khách, kích cầu tiêu dùng và thúc đẩy các ngành dịch vụ liên quan.Toàn tỉnh đón hơn 8,74 triệu lượt khách, tăng 18,5%; tổng thu từ du lịch đạt khoảng 19.000 tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt hơn 108 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 15,1%, vận tải hành khách tăng 23,3%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và du lịch tăng cao.Hoạt động xuất nhập khẩu duy trì đà tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,1 tỷ USD, tăng 6,7%; nhập khẩu đạt gần 554 triệu USD, tăng 13,1%. Một số ngành hàng chủ lực tiếp tục tăng trưởng khá như sản phẩm gỗ, thủy sản, góp phần cải thiện cán cân thương mại.Đầu tư toàn xã hội đạt gần 35.938 tỷ đồng (tăng 8,9%); trong đó khu vực ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng chủ đạo với 67,6%. Điều này cho thấy niềm tin của khu vực tư nhân vào môi trường đầu tư tiếp tục được củng cố. Hoạt động tín dụng ổn định, tổng dư nợ đạt trên 262,5 nghìn tỷ đồng (tăng 13,6%), nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,34%.Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất duy trì ổn định, tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế. Sản lượng lúa Đông Xuân đạt khoảng 512,7 nghìn tấn; chăn nuôi phát triển tích cực theo hướng quy mô trang trại.Công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng được đẩy mạnh với hơn 5.042 ha, cấp mã số vùng trồng và xây dựng chuỗi liên kết tiếp tục nâng cao hiệu quả sản xuất.Hoạt động doanh nghiệp ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực với 1.971 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 42,2%), tổng vốn đăng ký đạt 28.663 tỷ đồng. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng, cho thấy môi trường kinh doanh tiếp tục cải thiện.Bên cạnh những kết quả đạt được, 6 tháng qua, tỉnh vẫn còn một số khó khăn như áp lực chi phí đầu vào, tiến độ giải ngân đầu tư công chưa đồng đều, một số ngành sản xuất còn gặp trở ngại.Phóng viên trao đổi tại buổi họp báo. Ảnh: Bình DươngTại buổi họp báo, lãnh đạo Thống kê tỉnh cũng trao đổi với đại diện các cơ quan báo chí, làm rõ thêm một số nội dung, số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh 6 tháng đầu năm 2026.Trong 6 tháng cuối năm, Gia Lai tiếp tục phát huy các động lực tăng trưởng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, tận dụng hiệu quả các cơ hội từ Năm Du lịch quốc gia 2026.Qua đó, không chỉ góp phần hoàn thành mục tiêu năm 2026, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển trong giai đoạn tiếp theo mà còn đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của cả nước.Nguồn: https://baogialai.com.vn/

Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai 6 tháng đầu năm 2026
  •   08/07/2026 11:30

Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai 6 tháng đầu năm 2026Sáng ngày 08/7/2026, Thống kê tỉnh Gia Lai tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai 6 tháng đầu năm 2026.Quang cảnh buổi họp báo Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng đầu năm tiếp tục duy trì ổn định, nhiều lĩnh vực đạt kết quả tích cực, tạo nền tảng cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của cả năm. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Gia Lai (theo giá so sánh năm 2020) 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 8,21% so với cùng kỳ năm 2025. Trong mức tăng trưởng chung 6 tháng đầu năm 2026 của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,14%, đóng góp 0,98 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,68%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm, trong đó công nghiệp tăng 11,74%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,17%; đóng góp 3,57 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,26%; tăng 0,33 điểm phần trăm. Quy mô nền kinh tế tỉnh Gia Lai ước tính 6 tháng đầu năm 2026 đạt 124,4 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành), tăng 13,7 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có xu hướng tích cực tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp – xây dựng, cụ thể: - Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,76%; - Công nghiệp - xây dựng chiếm 30,36%; trong đó, Công nghiệp chiếm 23,66%; - Dịch vụ chiếm 43,91%; - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,97%. Sản xuất công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của tỉnh, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, riêng lĩnh vực ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,34% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,55%... Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 108.108,7 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳĐại diện các cơ quan báo chí đặt câu hỏi làm rõ các thông tin về số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh 6 tháng đầu năm 2026. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Toàn tỉnh có 1.971 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm 2025; tổng vốn đăng ký đạt 28.663 tỷ đồng, tăng 52,7%. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 14,5 tỷ đồng, tăng 77,68% so với cùng kỳ. Tại buổi họp báo, đại diện các cơ quan báo chí trên địa bàn bày tỏ sự ấn tượng với những chỉ tiêu kinh tế - xã hội nổi bật mà tỉnh Gia Lai đã đạt được trong 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời tham gia các ý kiến làm rõ các thông tin về số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 về một số nội dung, lĩnh vực: Nông, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp- Xây dựng; tiềm năng phát triển du lịch; chính sách thuế đối ứng; vi phạm môi trường… Thông qua buổi họp báo đã giúp tăng cường tính công khai, minh bạch trong công tác thống kê, giúp các cơ quan báo chí, doanh nghiệp, người dân nắm bắt đầy đủ, kịp thời về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội. Thống kê tỉnh Gia Lai

Phát triển mô hình trồng lúa hữu cơ trên địa bàn xã Vạn Đức
  •   25/06/2026 08:41

Xã Vạn Đức hiện có khoảng 5,3 ha lúa hữu cơ. Mô hình sản xuất lúa hữu cơ là phương pháp canh tác hiện đại. Khác với cách trồng lúa truyền thống sử dụng nhiều phân bón hoá học và thuốc trừ sâu, sản xuất lúa hữu cơ ưu tiên sử dụng các nguyên liệu tự nhiên như phân chuồng hoai mục, phân xanh và các biện pháp sinh học để chăm sóc cây lúa. Trong mô hình này, người nông dân không dùng thuốc bảo vệ thực vật hoá học mà thay thế bằng các biện pháp tự nhiên như nuôi thiên địch (cá, vịt) sử sụng chế phẩm sinh học hoặc trồng xen canh để hạn chế sâu bệnh. Đồng thời, đất trồng được cải tạo thường xuyên để tăng độ màu mỡ, giúp cây lúa phát triển khoẻ mạnh một cách tự nhiên. Kỹ thuật canh tác lúa hữu cơ như sau: Về làm đất, cày sớm vùi gốc rạ, kết hợp bón vôi để gốc rạ hoai mục, tiêu diệt cỏ dại và hạn chế sâu bệnh, cày 2 lần, bừa sạch cỏ, nhuyễn bùn sau đó san phẳng mặt ruộng và tạo rãnh thoát nước khoảng 1,5m- 2m theo độ dốc của đám ruộng. Về thời vụ, đối với vụ Đông xuân thường gieo sạ tập trung từ ngày 15/12 đến ngày 25/12 để lúa trỗ tập trung vào đầu tháng 3, còn vụ Hè thu gieo sạ tập trung từ ngày 10/5 đến ngày 25/5 để lúa trỗ tập trung vào cuối tháng 8. Về cơ cấu giống, giống chủ lực cho lúa hữu cơ này là sử dụng giống DV 108, khang dân đột biến, VNR20, đài thơ 8, ĐB6. Giống chất lượng: Hương thơm số 1, hương châu 6, hương xuân, TBR97, VN121. Về lượng giống và kỹ thuật gieo sạ, sử dụng khoảng 50-80 ký/ha (tuỳ theo giống), có nguồn gốc rõ ràng, phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương, thị trường và nhu cầu người tiêu dùng. Về ngâm ủ hạt giống, hạt giống được xử lý theo phương pháp 3 lạnh 2 sôi (540C) trong thời gian 15-20 phút, loại bỏ lép lửng rửa sạch, sau đó ngâm tiếp trong nước sạch. Thời gian ngâm 24-30 giờ, 5-6 giờ thay nước 1 lần sau đó vớt ra rửa sạch, ủ trong 24-30 giờ ở nhiệt độ khoảng 30-350C, khi chiều dài rễ dài bằng 2/3 chiều dài hạt thóc thì mang ra gieo sạ. Đối với sạ hàng hoặc sạ cụm chỉ cần ủ khi mầm nứt nanh (mép sáo) thì đem gieo. Về kỹ thuật bón phân, lượng phân cho 1 ha bao gồm vôi: 400 kg/ha (tương ứng 20 kg/sào), phân lân nung chảy 300 kg tương ứng 15 kg/sào), phân chuồng hoại mục 10 tấn hoặc phân hữu cơ vi sinh 01 tấn (tương ứng 50kg/sào), phân hữu cơ sinh học 2 tấn (tương ứng 100 kg/sào), khi sử dụng nguồn phân hữu cơ tự nhiên, ưu điểm là nâng cao độ phì cho đất, làm đất tơi xốp, các hydrat cabon phân giải chậm thành mùn, axit hữu cơ, các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây, tạo đất xốp, rễ phát triển, giảm sâu bệnh hại, phân hữu cơ còn giúp các bộ phận như cành, lá, cây cứng cáp hơn, lá dày, khả năng thích ứng điều kiện bất lợi tốt hơn, ít sâu bệnh, về nhược điểm, trong phân hữu cơ thường nhả chất dinh dưỡng tương đối chậm rãi, phải ủ kỹ thì cây trồng mới hấp thụ tốt và đạt hiệu quả cao. Về làm cỏ và tỉa dặm, việc kiểm soát cỏ dại dựa trên các biện pháp canh tác như: cày sâu, bừa nhuyễn, làm đất bằng phẳng, duy trì mực nước trong ruộng lúa, để kiểm soát cỏ dại kết hợp làm cỏ bằng tay để diệt cỏ. Quản lý cỏ dại bằng cách sử dụng dụng cụ sạ hàng để dễ dàng làm cỏ bằng tay hoặc cơ giới hóa. Dùng thuốc trừ cỏ sinh học như dấm sinh học (acetic acid), dung dịch muối khoáng thiên nhiên, Green Match, Bio- HerBicicd, chế phẩm từ tinh dầu (cam,quế, chanh), sau đó tiến hành tỉa, dặm ngay sau khi bón phân thúc lần 1 (sau sạ 15 – 17 ngày), nếu diện tích lúa dặm lại tập trung từng mảng lớn trên ruộng, bón thêm phân đạm cá để tăng độ đồng đều trên ruộng, giúp lúa ra rễ nhiều, đẻ nhánh tập trung. Về chế độ điều tiết nước, duy trì đủ ẩm cho đất ở tất các các giai đoạn của cây lúa từ khi gieo đến chín. Sau sạ 4 ngày, sang ngày thứ 5 đưa nước vào ruộng 1-3 cm để hạn chế cỏ dại. Khi bón phân thúc, đưa nước vào ruộng 3 – 5cm phân tan đều và dễ hấp thu vào đất. Kết thúc đẻ nhánh đến làm đòng ( 5-7 cm), từ trỗ bông phơi màu đến chín sữa (5-7 cm), từ chín sáp đến thu hoạch rút kiệt nước ruộng. Về quản lý dịch hại và phòng trừ sâu bệnh, không sử dụng thuốc BVTV hóa học cho sâu ăn lá, rầy, đục thân, ... giai đoạn từ sau gieo đến đứng cái. Trường hợp đặc biệt cần phun, phải có hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật BVTV. Các giai đoạn sau, chỉ sử dụng thuốc khi mật độ sâu cao có khả năng gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất lúa, chỉ sử dụng thuốc trừ sâu sinh học khi cần thiết nhưng có chọn lọc và đúng liều lượng. Về thu hoạch thì khi lúa chín 85% tiến hành thu hoạch lúc nắng ráo. Gặt xong tuốt, phơi khô ở độ ẩm còn dưới 13,5%.  Mô hình trồng lúa hữu cơ mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Giúp bảo vệ môi trường, giảm ô nhiễm đất và nguồn nước; gạo hữu cơ có chất lượng cao, giá trị kinh tế cao, nâng cao thu nhập cho người nông dân. Tuy nhiên, mô hình này cũng gặp một số khó khăn như chi phí đầu tư ban đầu cao, năng suất có thể thấp hơn trong thời gian đầu. Dù vậy, với sự hỗ trợ của khoa học và chính sách phù hợp, sản xuất lúa hữu cơ đang ngày càng được nhân rộng và trở thành xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại./.  Người viết: Nguyễn Thị Bích Phượng - Thống kê viên, Thống kê cơ sở Hoài Ân.

Mô hình tăng trưởng mới: Mở đường băng cho khát vọng tăng trưởng 2 con số
  •   22/06/2026 14:22

Phóng viên: Thưa ông, thời gian qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhiều chuyên gia kinh tế nhắc đến nhiều câu chuyện nền kinh tế Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ tăng trưởng kinh tế theo quy mô chiều rộng sang tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Vậy xin ông cho biết rõ hơn về khái niệm giữa hai mô hình tăng trưởng này?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Có thể hiểu một cách ngắn gọn, tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động và khai thác tài nguyên; còn tăng trưởng theo chiều sâu là tăng trưởng dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.Trong giai đoạn đầu phát triển, hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đều trải qua mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Nhờ huy động mạnh mẽ vốn đầu tư, tận dụng lợi thế lao động dồi dào, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài. Đây cũng là mô hình đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ một nước nghèo trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và quy mô kinh tế thuộc nhóm lớn trong khu vực với quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỷ USD xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN.Tuy nhiên, mô hình này có những giới hạn nhất định. Khi lao động giá rẻ dần mất đi do già hóa dân số, tài nguyên ngày càng hạn chế và hiệu quả đầu tư giảm dần, việc tiếp tục duy trì tăng trưởng cao chỉ bằng cách tăng vốn và lao động sẽ ngày càng khó khăn. Đây là thách thức mà nhiều quốc gia đang phát triển đã gặp phải khi bước vào giai đoạn thu nhập trung bình.Trong khi đó, tăng trưởng theo chiều sâu tập trung vào nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Cùng một lượng vốn và lao động nhưng nền kinh tế có thể tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn nhờ ứng dụng công nghệ mới và đổi mới phương thức sản xuất.Xét về bản chất, sự khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình nằm ở vai trò của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Nếu tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn và lao động thì tăng trưởng theo chiều sâu dựa nhiều hơn vào TFP, tức là phần tăng trưởng được tạo ra từ tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hiệu quả phân bổ nguồn lực.Đối với Việt Nam, việc chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu là yêu cầu khách quan và cấp thiết để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới. Đây cũng là lý do Đại hội XIV của Đảng xác định cần xây dựng mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu.Phóng viên: Ông có thể nói gì về quá trình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam trong thời gian qua? Mô hình tăng trưởng này của Việt Nam chủ yếu dựa vào những động lực nào, đâu là dấu hiệu cho thấy mô hình đó đã tới hạn và những rủi ro sẽ phải đối mặt nếu chúng ta tiếp tục duy trì thực hiện?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Sau Đổi mới, Việt Nam là một trong những quốc gia vận dụng khá thành công mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Trong điều kiện xuất phát điểm thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ và hạ tầng còn yếu kém, việc huy động tối đa các nguồn lực sẵn có đã giúp nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ba động lực chính của mô hình này là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mở rộng đầu tư của Nhà nước và khai thác lợi thế lao động giá rẻ. Nhờ đó, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7%/năm trong giai đoạn 1990-2010 và chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình từ năm 2008.Tuy nhiên, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần suy giảm hiệu quả và bộc lộ những giới hạn khách quan của giai đoạn phát triển mới. Hiệu quả sử dụng vốn có xu hướng giảm khi hệ số ICOR tăng từ khoảng 4 lần lên trên 6 lần, thậm chí có giai đoạn vượt 8 lần; nghĩa là nền kinh tế phải bỏ ra nhiều vốn hơn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng. Trong khi đó, đóng góp của TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2001-2010 chỉ khoảng 10%, cho thấy tăng trưởng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào vốn và lao động.Bên cạnh đó, khu vực FDI đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam; tuy nhiên, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước và lan tỏa công nghệ còn chưa tương xứng với tiềm năng. Năng lực công nghệ nội sinh, hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và khả năng tham gia vào các khâu có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Đồng thời, lợi thế lao động giá rẻ đang giảm dần khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số, còn dư địa mở rộng đầu tư ngày càng thu hẹp. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực cũ, nền kinh tế sẽ khó duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và đối mặt với nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Đây chính là lý do Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.Phóng viên: Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam xác định chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Ông có thể nói rõ hơn về các động lực tăng trưởng của mô hình mới thay thế mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động giá rẻ?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Xét dưới góc độ kinh tế học, bản chất của mô hình tăng trưởng mới là chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Thành công của mô hình tăng trưởng mới sẽ được phản ánh tập trung thông qua sự gia tăng của TFP. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn, lao động, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.Nếu mô hình tăng trưởng trước đây hướng tới mở rộng quy mô nguồn lực thì mô hình mới hướng tới tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực thông qua tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Động lực trung tâm của mô hình này là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khoa học công nghệ tạo ra tri thức và công nghệ mới; đổi mới sáng tạo chuyển các tri thức đó thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới; còn chuyển đổi số giúp lan tỏa nhanh hơn các thành tựu công nghệ vào toàn bộ nền kinh tế. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực sản xuất mới; trí tuệ nhân tạo đang trở thành lực lượng sản xuất mới; còn đổi mới sáng tạo đang trở thành phương thức chủ yếu để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định trong việc hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ. Cùng với đó là các dòng vốn chất lượng cao gắn với nghiên cứu phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước.Mục tiêu của mô hình tăng trưởng mới không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn mà là nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Đây chính là nền tảng để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Phóng viên: Theo ông, làm thế nào để Việt Nam có thể tận dụng hiệu quả các động lực tăng trưởng mới để Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030? Việt Nam có thể học được những bài học kinh nghiệm gì từ các quốc gia châu Á chuyển đổi nền kinh tế thành công, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và gia nhập vào nhóm quốc gia phát triển?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Để khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp trọng tâm.Thứ nhất, tiếp tục đột phá về thể chế, trong nền kinh tế tri thức, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà còn là một nguồn lực phát triển. Cần xây dựng khung pháp lý thuận lợi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.Thứ hai, ưu tiên nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những lĩnh vực trực tiếp tạo ra năng suất mới và nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng.Thứ ba, chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D), các ngành bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ xanh và các dự án có khả năng liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước.Thứ tư, phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, hình thành các doanh nghiệp có năng lực làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, công nghệ lõi và xây dựng thương hiệu trong chuỗi giá trị toàn cầu.Mặc dù có những con đường phát triển khác nhau, nhưng các nền kinh tế thành công ở châu Á đều có một điểm chung là chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên huy động nguồn lực sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo. Hàn Quốc thành công nhờ đầu tư mạnh cho R&D và phát triển các tập đoàn công nghệ toàn cầu; Đài Loan (Trung Quốc) lựa chọn đúng các ngành công nghệ mũi nhọn để tập trung nguồn lực phát triển; Singapore xây dựng thể chế minh bạch, môi trường kinh doanh thuận lợi và nguồn nhân lực chất lượng cao; Israel phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới; còn Trung Quốc đang chuyển mạnh từ “Made in China” sang “Created in China”, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, xe điện và kinh tế số.Đối với Việt Nam, bài học quan trọng nhất là phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp sang từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu, thiết kế và thương hiệu.Xét đến cùng, bản chất của đổi mới mô hình tăng trưởng là nâng cao đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây cũng chính là con đường để tạo ra năng suất mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, duy trì tăng trưởng cao, bền vững trong những thập niên tới và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Nguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn

Thống kê tỉnh Gia Lai kết nghĩa với thôn Dlâm
  •   12/06/2026 11:09

Chiều 11-6, Thống kê tỉnh Gia Lai tổ chức lễ kết nghĩa với thôn Dlâm (xã Chư A Thai).Đại diện lãnh đạo Thống kê tỉnh, UBND xã Chư A Thai và thôn Dlâm ký kết giao ước kết nghĩa. Ảnh: Vũ ChiThôn Dlâm có 174 hộ, 662 nhân khẩu. Chi bộ thôn có 15 đảng viên. Thôn có 8 dân tộc anh em cùng sinh sống gồm: Kinh, Thái, Mường, Tày, Nùng, Bahnar, Jrai và Ngãi. 99,8% số hộ dân làm nông nghiệp nên đời sống còn nhiều khó khăn. Hiện thôn còn 22 hộ nghèo và 35 hộ cận nghèo. Thu nhập bình quân đầu người đạt 30 triệu đồng/người/năm.Tại buổi lễ, đại diện lãnh đạo Thống kê tỉnh, UBND xã Chư A Thai và thôn Dlâm đã ký kết giao ước kết nghĩa với các hoạt động như: Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống; giữ vững an ninh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Lãnh đạo Thống kê tỉnh tặng quà cho cán bộ và nhân dân thôn Dlâm. Ảnh: Vũ ChiCác hoạt động an sinh xã hội cũng được quan tâm như: Huy động và kết nối các nguồn lực xã hội hỗ trợ thôn cải thiện hạ tầng; phát triển kinh tế, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe cộng đồng; giao lưu văn hóa, thể thao.Dịp này, lãnh đạo Thống kê tỉnh đã tặng cán bộ và nhân dân thôn Dlâm một phần quà gồm 1 máy in và giấy A4 để phục vụ công việc chung của thôn.Nguồn: https://baogialai.com.vn/