Báo cáo KT-XH tháng 01 năm 2026
- 02/02/2026 17:17
Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 nên có ý nghĩa rất quan trọng. Tỉnh Gia Lai xác định nhiệm vụ trọng tâm là phát huy tối đa các tiềm năng và lợi thế so sánh, đồng thời huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy đầu tư phát triển. Mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2026 được đặt ra từ 8,8% đến 9,4%, phấn đấu trên 10%. Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 đề ra, UBND tỉnh đã yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương rà soát kỹ lưỡng các mục tiêu và giải pháp, xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá cần tập trung thực hiện. UBND tỉnh đã định hướng rõ những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong xây dựng phương án tăng trưởng kinh tế - xã hội và chương trình công tác năm 2026 của các xã, phường trên địa bàn tỉnh. Ngay từ những ngày đầu năm, các sở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã xây dựng phương án và kế hoạch triển khai cụ thể, thống nhất, xuyên suốt từ cấp tỉnh đến cấp xã và tiến hành thực hiện để bảo đảm hoàn thành Kế hoạch năm 2026 ngay từ tháng đầu, quý đầu. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai tháng 01 năm 2026 đạt được một số kết quả chủ yếu cụ thể như sau: 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 01 năm 2026 của tỉnh Gia Lai tương đối ổn định, trong tháng tập trung chăm sóc và gieo trồng các loại cây vụ Đông Xuân năm 2025 - 2026. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a) Trồng trọt* Cây hàng năm: Đối với lúa vụ Đông Xuân, diện tích gieo trồng tính đến ngày 20/01/2026 đạt 67.857 ha, giảm 4,7% (-3.319,9 ha) so với cùng kỳ. Tính đến ngày 20/01/2026, toàn tỉnh đã gieo trồng các loại cây chủ lực so với cùng kỳ năm trước, như sau: Cây ngô 2.556 ha, giảm 38,3% (-1.589,6 ha); diện tích khoai lang gieo trồng được 1.915 ha, giảm 15,3% (-344,9 ha); cây lạc 4.693 ha giảm 32,0% (-2.211,5 ha); rau các loại 8.940 ha, giảm 44,5% (-7.164,8 ha); đậu các loại 2.720 ha, giảm 44,7% (-2.200,9 ha) so với cùng kỳ. Diện tích các loại cây gieo trồng muộn hơn so với cùng kỳ năm trước do tác động xấu của cơn bão số 13 và đợt ngập lụt kéo dài, các hộ dân mất một thời gian để khắc phục hậu quả đã làm ảnh hưởng đến thời gian gieo trồng của vụ Đông Xuân năm nay, mặt khác trong tháng thời tiết có mưa và lạnh kéo dài đã làm chậm tiến độ gieo trồng.Hình 1. Diện tích gieo trồng một số loại cây(Đến ngày 20/01/2026 so với cùng kỳ) * Cây lâu năm Trong tháng tình hình sản xuất cây lâu năm ổn định, diện tích cây lâu năm phát triển chủ yếu tại khu vực phía Tây của tỉnh: cây cà phê sau khi thu hoạch xong, các hộ dân đang tiến hành cắt cành ổn định tán, chăm sóc để phục hồi cho cây; hiện nay cây cao su đang trong giai đoạn rụng lá, nghỉ cạo mủ, đây là giai đoạn giúp cây tái tạo, phục hồi sức khỏe và tán lá chuẩn bị cho mùa khai thác tiếp theo, chỉ có một số diện tích sẽ cho thu hoạch sớm từ cuối tháng 01; cây tiêu đang chuẩn bị vào mùa thu hoạch chính, nhiều diện tích trái tiêu đã già đang thu hoạch rải rác, giá tiêu hiện nay đang dao động 140-148 ngàn đồng/kg, đây là mức giá cao, tạo động lực, sự phấn khởi cho các hộ dân trồng tiêu trên địa bàn tỉnh mùa này. Các loại cây trồng khác đặc biệt là các loại cây ăn quả như chuối, chanh leo… các hộ dân vẫn đang tiếp tục chăm sóc, thu hoạch và phòng trừ sâu bệnh. Về tình hình sâu bệnh hại cây trồng, trên cây lúa xuất hiện bệnh bọ trĩ gây hại cục bộ lúa 1-3 lá đẻ nhánh, ốc bươu vàng xuất hiện ở các chân ruộng trũng thấp ở Tây Sơn, Bình Phú, Bình An…; một số loại bệnh phổ biến trên các loại cây trồng như bệnh gỉ sắt, bệnh vàng lá, tuyến trùng gây hại rễ, các loại bệnh do nấm, virus. Nhìn chung, các đối tượng sinh vật hại cây trồng phát sinh gây hại cục bộ, tỷ lệ gây hại thấp không ảnh hưởng nhiều đến tình hình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Ngành nông nghiệp đang tích cực hỗ trợ nông dân phòng trừ sâu bệnh, tránh lây lan trên diện rộng. b) Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trong tháng 01/2026 nhìn chung ổn định. Dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được kiểm soát chặt chẽ. Dịch tả lợn Châu Phi không phát sinh ổ dịch mới. Các doanh nghiệp và hộ nuôi tích cực tăng đàn và tái đàn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán sắp tới, chủ động triển khai thực hiện các biện pháp vệ sinh, khử trùng tiêu độc môi trường chăn nuôi. Đàn gia cầm phát triển mạnh về số lượng đầu con sản phẩm thịt và trứng, hứa hẹn đáp ứng nhu cầu tiêu thụ mạnh vào dịp Tết cổ truyền. Tính đến cuối tháng 01/2026, đàn trâu của tỉnh ước đạt 25.523 con, giảm 6,9% (-1.882 con) so với cùng kỳ. Đàn bò ước đạt 790.729 con, tăng 2,1% (+15.900 con) so với cùng kỳ; trong đó, bò sữa ước đạt 14.273 con, tăng 2,7% (+378 con) so với cùng kỳ. Đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) ước đạt 1.684.674 con, tăng 18,3% (+260.244 con) so với cùng kỳ. Đàn gia cầm ước đạt 18.385,4 nghìn con, tăng 10,5% (+1.750,5 nghìn con) so với cùng kỳ; trong đó, đàn gà có 15.999,8 nghìn con, tăng 10,6% (+1.530,8 nghìn con) so với cùng kỳ. Trong tháng 01/2026, tình hình chăn nuôi gia cầm sôi động, số lượng đầu con tăng mạnh, các cơ sở nuôi đang tập trung đầu tư để tăng trọng cho đàn gia cầm, chuẩn bị xuất chuồng các sản phẩm thịt hơi và trứng phục vụ nhu cầu thị trường nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026.Hình 2. Số lượng đầu con gia súc, gia cầm(Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ) 1.2. Lâm nghiệp Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong tỉnh trong tháng 01/ 2026 tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả rừng trồng bằng biện pháp thâm canh rừng trồng sản xuất, sử dụng cây giống nuôi cấy mô, cây giống lâm nghiệp mới, chất lượng cao, phục vụ trồng rừng cây gỗ lớn. Thời điểm đầu năm tại Gia Lai Tây đang trong những tháng mùa khô và có gió mạnh, nên rất dễ xảy ra cháy rừng. Công tác phòng, chống cháy rừng đang được tăng cường, tập trung cao độ, các Ban chỉ huy bảo vệ và phòng chống cháy rừng ở các địa phương được củng cố và kiện toàn, tổ chức trực 24/24 giờ, giúp giảm thiểu thiệt hại khi có cháy rừng xảy ra. Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân không phá rừng, lấn chiếm, khai thác, mua bán lâm sản trái pháp luật. Vận động các gia đình sống gần bìa rừng, bà con trong cộng đồng thực hiện tốt cam kết bảo vệ rừng. Về công tác trồng rừng: Theo Kế hoạch năm 2026, trồng rừng mới tập trung 42.500 ha, trong tháng 01/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung được 154 ha, (tại thời điểm này năm trước chưa có diện tích trồng mới). Sản lượng gỗ khai thác tháng 01/2026 ước đạt 66.532 m³, tăng 0,2% (+157,9 m³) so với cùng kỳ, chủ yếu là các loại gỗ nguyên liệu dùng cho sản xuất và nhu cầu thiết yếu của hộ gia đình. Nhờ quản lý tốt công tác bảo vệ rừng nên trong tháng không xảy ra tình trạng cháy rừng, phát sinh 2 vụ phá rừng, diện tích rừng bị phá là 0,11 ha, giảm 92,2% (-1,31 ha) so với cùng kỳ.Hình 3. Tình hình lâm nghiệp(Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ) 1.3. Thủy sản Hoạt động khai thác thủy sản tuy thời tiết không thuận lợi, nhưng các ngư dân vẫn bám biển đưa tàu ra khơi, chuyển ngư trường và tăng số ngày đánh bắt để có nhiểu sản phẩm thủy sản phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới, các xuồng, ghe thô sơ đánh bắt gần bờ, sản lượng không nhiều; sản lượng tăng chủ yếu của các tàu đánh bắt xa bờ. Trong tháng 01/2026, thủy sản chủ yếu là cá ngừ, cá nục, mực, cá thu. Công tác nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ diễn ra tương đối ổn định, các hộ nuôi đang triển khai việc gia cố, nạo vét, vệ sinh cải tạo ao đìa để chuẩn bị thả giống nuôi vụ 1 năm 2026. Tại khu vực phía Tây, tình hình nuôi trồng thủy sản còn nhỏ lẻ, chưa được chú trọng đầu tư, nên sản lượng thủy sản ít, chủ yếu nuôi theo hình thức quảng canh, cho năng suất thấp. Khu vực phía Đông nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh, đặc biệt nuôi các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như cá lăng, tôm thương phẩm. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 01/2026 ước đạt ước đạt 351,3 tấn, tăng 2,4% (+8,4 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cá ước đạt 217,6 tấn, tăng 2,4% (+5 tấn) so với cùng kỳ, sản lượng tôm ước đạt 106,3 tấn, tăng 2,6% (+2,7 tấn) so với cùng kỳ, sản lượng thủy sản khác ước đạt 27,4 tấn, tăng 2,6% (+0,7 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác thủy sản biển tháng 01/2026 ước đạt 19.033,4 tấn, tăng 10,2% (+1.757,4 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cá các loại ước đạt 17.135,6 tấn, tăng 10,1% (+1.573,8 tấn) so với cùng kỳ, tôm ước đạt 78,5 tấn, tăng 11% (+7,8 tấn) so với cùng kỳ, và thủy sản khác ước đạt 1.819,3 tấn, tăng 10,7% (+175,8 tấn) so với cùng kỳ.Hình 4. Sản lượng khai thác thủy sản biển chia theo loại con(Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ) Về đăng ký tàu cá, tính đến ngày 16/01/2026, toàn tỉnh có 5.746 tàu cá có chiều dài từ 6 mét trở lên được đăng ký (Vùng bờ: 1.793 tàu, vùng lộng: 784 tàu, vùng khơi: 3.169 tàu) được cập nhật đầy đủ lên hệ thống Vnfishbase. Tổ chức trực ban 24/7 hệ thống giám sát tàu cá; xử lý nghiêm, triệt để các trường hợp tàu cá mất kết nối VMS, vượt ranh giới cho phép trên biển. Công tác bảo vệ các loài thủy sản quý hiếm, đặc biệt là rùa biển đã được tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng ngư dân. Ngành Thủy sản đã tham mưu báo cáo tổng kết công tác tuyên truyền, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ các loài động vật hoang dã, bảo vệ nguồn lợi thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Bước vào tháng 01 năm 2026, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ. Kết quả này phản ánh sự phục hồi của các cơ sở sản xuất sau ảnh hưởng của thiên tai xảy ra vào những tháng cuối năm 2025, đồng thời cho thấy nỗ lực ổn định và duy trì hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh. Với tinh thần chủ động và quyết liệt, ngay từ những ngày đầu năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp huy động, tập trung tối đa nguồn lực, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh các hoạt động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. 2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01 năm 2026 so với tháng trước tăng 3,26%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,31%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,26%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 4,4%; hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải giảm 15,71%. So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 16,12%, chủ yếu do thời gian sản xuất trong tháng 01/2026 nhiều hơn so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ trùng vào dịp Tết Nguyên đán, các đơn vị sản xuất nghỉ khoảng 6-10 ngày). Bên cạnh đó, sự phục hồi của một số ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng góp phần thúc đẩy chỉ số sản xuất tháng 01/2026 tăng cao so với cùng kỳ. Chỉ số ngành khai khoáng giảm 12,08%, do nhiều giấy phép khai thác được cấp từ các nhiệm kỳ trước hoặc từ các đơn vị cũ (trước khi sáp nhập) bắt đầu hết hạn vào cuối năm 2025, việc chuyển đổi, cấp đổi giấy phép mới theo quy định sau sáp nhập có thể gặp độ trễ về thủ tục hành chính, một số mỏ chưa thể hoạt động trở lại ngay trong tháng đầu năm 2026. Chỉ số ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 14,49%. Ngoài thời gian sản xuất nhiều hơn cùng kỳ tác động lên chỉ số sản xuất tăng cao, mức tăng này còn phản ánh nỗ lực duy trì, mở rộng sản xuất trong bối cảnh thị trường tiêu thụ nhiều khó khăn.Hình 5. Tốc độ tăng Chỉ số sản xuất công nghiệp(Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ) Tình hình sản xuất ở một số ngành chủ yếu của tỉnh: - Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm tăng 21,41% so với cùng kỳ. Đa phần các ngành năm nay đều tăng cao, trong đó sản phẩm tôm đông lạnh tăng 52,22%; ngành chế biến bảo quản rau quả tăng 35,96% do tháng 01 là giai đoạn thu hoạch rộ của các vùng nguyên liệu liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, các doanh nghiệp vận hành hết công suất để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu lớn ngay từ đầu năm; sữa và kem chưa cô đặc tăng 21,03%, các công ty tập trung sản xuất phục vụ cho Tết Nguyên đán nên lượng sản xuất tăng cao; ngành sản xuất tinh bột sắn tăng 35,97%; đường RE tăng 124,43%; đường RS tăng 26,52% do các ngành này đang vào vụ chính sản xuất; chế biến thức ăn gia súc tăng 11,64%, gia cầm tăng 2,43% nhờ sự tham gia thị trường của các doanh nghiệp mới, góp phần mở rộng quy mô sản xuất và cung ứng cho ngành chăn nuôi. - Ngành Dệt giảm 10,38% chịu tác động từ các doanh nghiệp ngành chế biến bàn, ghế giảm do gặp khó khăn từ thị trường xuất khẩu. - Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 20,95%. Đây là ngành sụt giảm mạnh nhất do nhu cầu thị trường tiêu thụ giảm, đặc biệt là đơn hàng xuất khẩu sang một số thị trường chưa phục hồi rõ nét trong bối cảnh cạnh tranh gia tăng và chi phí đầu vào còn ở mức cao. - Ngành chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ giảm 0,07%, do Công ty Năng lượng Vân Canh (doanh nghiệp quy mô lớn) xảy ra sự cố cháy xưởng vào cuối tháng 11/2025 đến nay chưa khôi phục sản xuất, ảnh hưởng đến chỉ số công nghiệp của ngành. - Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 26,13% nhằm phục vụ bao bì cho logistics và chế biến nông sản. - Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 8,82%, duy trì mức tăng ổn định nhằm cung ứng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật cho mùa vụ nông nghiệp đầu năm. - Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 31,71%, do nhu cầu bao bì nhựa cho ngành thực phẩm và các sản phẩm kỹ thuật. - Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 26,64% nhằm chuẩn bị phục vụ cho ngành xây dựng. - Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3,14%. Nguyên nhân do đơn hàng xuất khẩu giảm dưới tác động của chính sách thuế thương mại của Hoa Kỳ. Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 24,27%, là ngành đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Lưu lượng nước về hồ lớn, các đợt mưa lớn vào cuối năm 2025 đã tích đầy các hồ chứa, cho phép nhà máy phát điện liên tục ở cường độ cao. Hệ thống điện quốc gia huy động tối đa nguồn thủy điện giá rẻ từ khu vực miền Trung - Tây Nguyên để giảm bớt áp lực cho các nguồn điện nhiệt than và khí vốn có chi phí cao hơn. Bên cạnh đó, điện gió giảm 6,46% do tốc độ gió giảm nhẹ; điện mặt trời tăng 42,45% do điều kiện thời tiết thuận lợi hơn, các nhà máy điện mặt trời vận hành với công suất cao và ổn định hơn; điện thương phẩm giảm 9,21%. Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,68%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 4,3%; Thoát nước và xử lý nước thải tăng 38,86%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 8,15%. 2.2. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động tháng 01 năm 2026 so với tháng trước tăng 1,34%. Trong đó, Khai khoáng giảm 0,86%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,09%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,04%; Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,13%. Chỉ số sử dụng lao động tháng 01 năm 2026 tăng 2,55% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng cao như: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 10,94%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 42,16%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 31,18%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm như Sản xuất giường tủ bàn ghế giảm 18,82%; Sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 16,67%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 22,41%. Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ chỉ số sử dụng lao động tháng 01 năm 2026 của khối doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,17%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 4,03%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,61%. 3. Tình hình vốn đầu tư phát triển và thu hút đầu tư 3.1. Vốn đầu tư phát triển Năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tăng cường công tác điều hành; ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo; thường xuyên tổ chức họp giao ban, kiểm tra tiến độ thực hiện các dự án nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các chủ đầu tư, nhất là trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và hoàn thiện thủ tục đầu tư. Nhờ đó, tiến độ triển khai và giải ngân vốn đầu tư ngân sách địa phương trong những tháng cuối năm có chuyển biến tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng và ổn định kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh. Bước sang tháng 01 năm 2026, là tháng đầu năm kế hoạch của giai đoạn 2026-2030, hoạt động đầu tư công trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung thanh toán khối lượng hoàn thành của các dự án chuyển tiếp, đồng thời hoàn thiện thủ tục đầu tư, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai các dự án khởi công mới theo kế hoạch vốn năm 2026 đã được giao. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2026 ước đạt 577,2 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ, đạt 4,3% kế hoạch năm. - Vốn Ngân sách cấp tỉnh đạt 441,7 tỷ đồng, tăng 5,3% so với cùng kỳ và đạt 4% kế hoạch năm; - Vốn Ngân sách cấp xã đạt 135,5 tỷ đồng, tăng 20,8% so với cùng kỳ và đạt 5,9% kế hoạch năm. Nhìn chung, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 01 năm 2026 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ, phản ánh sự chủ động của các cấp, các ngành trong việc triển khai kế hoạch đầu tư ngay từ đầu năm. Tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch năm còn thấp do đặc thù thời điểm đầu năm và một số dự án đang trong giai đoạn hoàn thiện thủ tục đầu tư; việc giải ngân giữa các nguồn vốn chưa đồng đều. Trong thời gian tới, cần tập trung đẩy nhanh công tác chuẩn bị đầu tư, sớm triển khai thi công các dự án đủ điều kiện, nhằm tạo chuyển biến rõ nét về tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công trong các tháng tiếp theo của năm 2026.Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện nguồn vốn NSNNdo địa phương quản lý tháng 01 năm 2026 Tình hình thực hiện dự án, công trình trọng điểm trên địa bàn Bước sang năm 2026, tỉnh tiếp tục xác định đầu tư các công trình trọng điểm là nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo động lực phát triển ngay từ đầu Kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026-2030. Theo đó, ưu tiên tập trung nguồn lực triển khai các dự án có tính kết nối liên vùng, lan tỏa cao và vai trò chiến lược, đặc biệt là các dự án giao thông trục động lực và hạ tầng then chốt. Các công trình trọng điểm được tập trung triển khai trong năm 2026 gồm: dự án đường bộ cao tốc Quy Nhơn – Pleiku; các tuyến đường kết nối từ cao tốc Bắc – Nam đến Khu công nghiệp Phù Mỹ và Bến cảng Phù Mỹ; tuyến đường nối từ Quốc lộ 1 đến đường ven biển ĐT.639 kết nối Cảng Đề Gi; tiếp tục đầu tư đường hành lang kinh tế phía Đông (đường tránh Quốc lộ 19), đường tỉnh 669, đường liên huyện Mang Yang – Ia Pa và các tuyến đường ven biển. Đồng thời, tỉnh ưu tiên đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị, khu tái định cư, các dự án năng lượng và hạ tầng truyền tải điện, cùng các công trình y tế, giáo dục, thủy lợi và cấp nước sinh hoạt, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế – xã hội và tăng cường liên kết vùng trong giai đoạn 2026-2030. 3.2. Về thu hút đầu tư Trong tháng 01 năm 2026, toàn tỉnh thu hút 29 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký đầu tư là 46.080,43 tỷ đồng. Trong đó có 11 dự án thuộc lĩnh vực Công nghiệp; 08 dự án thuộc lĩnh vực Xây dựng - hạ tầng; 07 dự án thuộc lĩnh vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; 02 dự án thuộc lĩnh vực Bất động sản, kinh tế đô thị; 01 dự án thuộc lĩnh vực Thương mại dịch vụ, du lịch. Có 10 dự án trong CCN và 17 dự án ngoài KKT, KCN, CCN và 02 dự trong ngoài KKT, KCN, CCN. Về phát triển doanh nghiệp: Từ đầu năm đến 22/01/2026 có 432 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 200% so với cùng kỳ) với tổng vốn đăng ký 2.338,2 tỷ đồng (tăng 275% so với cùng kỳ). 4. Hoạt động ngân hàng và tình hình thu, chi Ngân sách[1] 4.1. Hoạt động ngân hàng Tổng số dư huy động vốn của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai ước tính đến 31/01/2026 đạt 215.100 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ và tăng 1% so với tháng 12 năm 2025. Tổng dư nợ cho vay ước tính đến 31/01/2026 đạt 258.050 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ và tăng 1% so với tháng 12 năm 2025. Ước đến 31/01/2026 nợ xấu trên địa bàn chiếm tỷ lệ 1,25% so với tổng dư nợ.Hình 7. Hoạt động ngân hàng(Đến 31/01/2026 so với cùng kỳ) 4.2. Thu, chi ngân sách Tổng thu ngân sách Nhà nước ước tháng 01/2026 ước đạt 3.086,6 tỷ đồng, đạt 11,1% dự toán năm, tăng 8,56% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa (trừ tiền sử dụng đất; xổ số kiến thiết; thu cổ tức, lợi nhuận được chia và lợi nhuận còn lại) là 3.369,8 tỷ đồng, đạt 15,5% dự toán năm, tăng 25,25% so với cùng kỳ; thu tiền sử dụng đất là 618 tỷ đồng, đạt 5,4% dự toán năm; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu là 72,2 tỷ đồng, đạt 14,3% dự toán năm, gấp 2,16 lần so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách nhà nước ước tháng 01 năm 2026 là 896,7 tỷ đồng, đạt 2,0% dự toán năm 2026. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ Tết Nguyên đán đang đến gần, do đó nhu cầu tiêu dùng hàng hóa trên địa bàn tỉnh dự báo sẽ tăng cao. Các mặt hàng tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, quà Tết, đồ gia dụng, quần áo và các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu được tiêu thụ mạnh. Các trung tâm thương mại, siêu thị và cửa hàng bán lẻ trên địa bàn tỉnh dự báo lượng khách đến mua sắm tăng so với ngày thường. Các doanh nghiệp bán lẻ đã chủ động xây dựng và triển khai nhiều chương trình khuyến mãi, kích cầu tiêu dùng nhằm tận dụng thời điểm cao điểm mua sắm cuối năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2026 ước đạt 17.304 tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng trước do nhu cầu của người dân mua sắm đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 13.595,3 tỷ đồng, tăng 10,6%; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 2.053,6 tỷ đồng, tăng 15,4%; du lịch lữ hành ước đạt 44,4 tỷ đồng, tăng 4,3%; dịch vụ khác ước đạt 1.610,7 tỷ đồng, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Hình 8. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ)a) Tổng mức bán lẻ hàng hóa Tình hình hoạt động ngành thương mại năm 2026 có xu hướng phát triển ổn định với nhu cầu mua sắm tăng cao vào dịp cuối năm, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và các cơ sở chế biến thực phẩm cũng đang đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo nguồn cung ổn định trong dịp Tết. Hoạt động liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản được tăng cường. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đang theo dõi sát sao tình hình giá cả, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, để tránh tình trạng tăng giá đột biến. Các biện pháp bình ổn giá cũng được triển khai áp dụng, nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm của Nhân dân tại địa phương trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2026. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 01 năm 2026: Ước đạt 13.595,3 tỷ đồng, tăng 4,3% so với tháng trước, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành đều có xu hướng tăng cụ thể: Lương thực, thực phẩm ước đạt 5.500,7 tỷ đồng, tăng 3,6% so với tháng trước (do nhu cầu của xã hội trong dịp Lễ Giáng sinh và tết Dương lịch) và tăng 4,1% so với cùng kỳ; Hàng may mặc ước đạt 694,7 tỷ đồng, tăng 8,6% so với tháng trước (do nhu cầu xã hội ngày càng cao, việc ăn mặc đẹp trong các dịp Lễ, Tết) và tăng 14,6% so với cùng kỳ; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.421,4 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước (nhu cầu mua sắm những đồ dùng cần thiết khi thời tiết giao mùa) và tăng 17% so với cùng kỳ; Vật phẩm, văn hóa, giáo dục ước đạt 124,6 tỷ đồng, tăng 3,6% so với tháng trước (do nhu cầu về đồ dụng, dụng cụ học tập của học sinh các cấp tăng nhằm chuẩn bị cho kỳ thi cuối học kỳ I năm học 2025-2026) và tăng 6,9% so với cùng kỳ; Gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.621,3 tỷ đồng, tăng 5,6% so với tháng trước (khắc phục những ảnh hưởng sau bão và các công trình đầu tư đang được triển khai để đẩy nhanh tiến độ hoàn thành) và tăng 50,7% so với cùng kỳ; Nhóm xăng dầu các loại ước đạt 1.968,9 tỷ đồng, tăng 5,6% so với tháng trước (nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa) và tăng 1,7% so với cùng kỳ; Đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước đạt 264,8 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước, tăng 26,2% so với cùng kỳ do ảnh hưởng của giá vàng thế giới; Dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước đạt 270,9 tỷ đồng, tăng 3,6% so với tháng trước; tăng 17,9% so với cùng kỳ; Nhóm hàng hóa khác ước đạt 918,8 tỷ đồng tăng 5,6% so với tháng trước do nhu cầu mua sắm dịp Lễ, Tết và cuối năm và tăng 3,5% so với cùng kỳ.b) Dịch vụ Trong tháng 01/2026 cán bộ, công chức, viên chức được nghỉ liên tục 4 ngày dịp Tết Dương lịch nên các hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh sôi động. Các hoạt động tổ chức hội nghị, tổng kết cuối năm của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tác động tích cực đến doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và một số dịch vụ khác. Việc tỉnh Gia Lai đăng cai Năm Du lịch quốc gia 2026 được kỳ vọng tạo cú hích quan trọng cho tăng trưởng du lịch, thúc đẩy liên kết vùng, thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh của điểm đến Gia Lai. Đây cũng là cơ hội để tỉnh phát huy giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, đồng thời giới thiệu các sản phẩm du lịch đặc trưng, mới mẻ đến du khách trong nước và quốc tế. Do đó, doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng ước tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước; tuy nhiên mức tăng giữa các nhóm ngành còn khác nhau. - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 01/2026 ước đạt 2.053,6 tỷ đồng, tăng 4,2% so với tháng trước, tăng 15,4% so với cùng kỳ. Trong đó: + Dịch vụ lưu trú ước đạt 203,3 tỷ đồng, tăng 17,6% so với tháng trước và tăng 8,5% so với cùng kỳ. Lượt khách lưu trú trong tháng 01/2026 ước đạt 433.241 lượt, tăng 18,5% so với tháng trước, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Ngày khách phục vụ đạt 529.020 ngày khách, tăng 5,4% so tháng trước và tăng 1,9% so với cùng kỳ; trong đó, nhóm khách quốc tế có tốc độ tăng trưởng cao vượt trội so với khách nội địa. + Doanh thu ngành ăn uống đạt 1.850,3 tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu ăn uống ngoài gia đình, liên hoan, tiếp khách tăng trong dịp đầu năm; giá một số mặt hàng thực phẩm và dịch vụ tăng; quy mô và công suất phục vụ của các cơ sở kinh doanh ăn uống được duy trì ổn định. + Tháng 01/2026 cận tháng có Tết Nguyên đán, với tâm lý người dân tập trung làm việc, sản xuất kinh doanh nên hạn chế đi du lịch, để dồn kỳ nghỉ vào tháng có Tết (tháng 02/2026) do đó doanh thu lữ hành tăng không đáng kể so với tháng trước. Ước tháng 01/2026 doanh thu lữ hành đạt 44,4 tỷ, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 4,3% so với cùng kỳ. Số lượt khách du lịch theo tour ước tháng 01/2026 đạt 25.268 lượt, tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 6,1% so với cùng kỳ. Ngày khách du lịch theo tour ước đạt 49.619 ngày khách, tăng 34,6% so với tháng trước, tăng 7,2% so với cùng kỳ. Tháng 01/2026, doanh thu các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh Gia Lai tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 195,8 tỷ đồng, giảm 0,5% so với tháng trước nhưng tăng 13,4% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 85,8 tỷ đồng, tăng 0,2% so với tháng trước, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước, phù hợp với hoạt động của giáo dục và đào tạo hiện nay. Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 211,2 tỷ đồng, tăng 0,3% so với tháng trước, tăng 42,1% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 311,2 tỷ đồng, giảm 0,5% so với tháng trước, nhưng tăng 21,9% so với cùng kỳ, trong đó hoạt động thể thao, vui chơi giải trí chiếm tỷ trọng lớn. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 413,3 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước, tăng 14,7% so với cùng kỳ. 5.2. Dịch vụ vận tải, kho bãi Tết Dương lịch năm 2026, công chức, viên chức được kỳ nghỉ Tết Dương lịch kéo dài 04 ngày liên tục, người dân có thể tận dụng kỳ nghỉ để đi chơi xa, nghỉ dưỡng. Vì vậy tình hình hoạt động kinh doanh vận tải nói chung trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong tháng 01/2026 có xu hướng tăng. Hình 9. Vận chuyển và luân chuyển vận tải hành khách, hàng hóa (Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ) a) Vận tải hành khách Sản lượng vận chuyển hành khách tháng 01/2026 ước đạt 7.608,5 nghìn HK, tăng 5,1% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 1.000,8 triệu HK.km, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. b) Vận tải hàng hóa Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 01/2026 đạt 4.992,6 nghìn tấn, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 748,5 triệu tấn.km, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 01 năm 2026 ước đạt 1.410 nghìn TTQ, giảm 7,7% so với tháng trước, tăng 21% so với cùng kỳ. Sau thời gian bị trì trệ do ảnh hưởng của bão lũ, sản lượng hàng hóa thông qua cảng đang trên đà phục hồi và tăng trưởng. Hình 10. Doanh thu vận tải, hỗ trợ vận tải; bưu chính và chuyển phát(Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ) c) Doanh thu vận tải Doanh thu ngành vận tải, kho bãi tháng 01 năm 2026: Ước đạt 1.746 tỷ đồng, giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: - Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 488,1 tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 28,0% so với tổng doanh thu vận tải, kho bãi. - Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 851,6 tỷ đồng, tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng cao nhất 48,8% so với tổng doanh thu vận tải, kho bãi. - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 381,6 tỷ đồng, giảm 4,5% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,8%, chiếm 21,9% so với tổng doanh thu vận tải, kho bãi. - Doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 24,7 tỷ đồng, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng thấp nhất 1,3% so với tổng doanh thu vận tải, kho bãi. 5.3. Hoạt động xuất, nhập khẩu Tháng 01 năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh ước đạt 440,8 triệu USD, giảm 16,1% so với tháng trước, tăng 13,6% so với cùng kỳ; cụ thể, xuất khẩu ước đạt 372,4 triệu USD, giảm 14,3% so với tháng trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ; nhập khẩu ước đạt 68,4 triệu USD, giảm 24,8% so với tháng trước, tăng 17,6% so với cùng kỳ. Góp chung vào cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu cho cả nước ước đạt 304 triệu USD. Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 01 năm 2026 trên địa bàn tỉnh, cụ thể sau:Hình 11. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tỉnh Gia Lai (Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ) a) Xuất nhập khẩu hàng hóa tại Gia Lai Đông Tháng 01 năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đối với Gia Lai Đông ước đạt 230,1 triệu USD, giảm 19,8% so với tháng trước, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; cụ thể, xuất khẩu ước đạt 182,1 triệu USD, giảm 17,3% so với tháng trước, tăng 13,9% so với cùng kỳ; nhập khẩu ước đạt 48 triệu USD, giảm 27,8% so với tháng trước, so với cùng kỳ tăng 26,8%. Góp chung cho cả tỉnh hàng hóa xuất siêu ước đạt 134,1 triệu USD.Hình 12. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Gia Lai Đông(Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ) * Tình hình xuất khẩu hàng hóa Tháng 01 năm 2026, xuất khẩu ước đạt 182,1 triệu USD, giảm 17,3% so tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,9%; trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1,5 triệu USD, chiếm 0,8% tổng giá trị xuất khẩu, giảm 24,5% so với tháng trước, tăng 16,3% so với cùng kỳ; kinh tế tư nhân ước đạt 147,8 triệu USD, chiếm 81,1% tổng giá trị xuất khẩu, giảm 19,8% so với tháng trước, tăng 6,7% so với cùng kỳ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 32,8 triệu USD, chiếm 18,1% tổng giá trị xuất khẩu, giảm 3,4% so với tháng trước, tăng 64,1% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu tháng 01 năm 2026: Các mặt hàng xuất khẩu của Gia Lai Đông trong tháng 01 năm 2026 có tăng/giảm so với cùng kỳ như sau: Hàng thủy sản ước đạt 13,8 triệu USD, tăng 28,3%, chiếm 7,6% tổng giá trị xuất khẩu; Gạo ước đạt 1,5 triệu USD, tăng 16,3%, chiếm 0,8% tổng giá trị xuất khẩu; Gỗ (chủ yếu là viên nén gỗ và mặt hàng dăm gỗ) ước đạt 32,8 triệu USD, tăng 27,1%, chiếm 18,0% tổng giá trị xuất khẩu; Hàng dệt may ước đạt 39,9 triệu USD, tăng 20,6%, chiếm 21,9% tổng giá trị xuất khẩu... Bên cạnh các nhóm hàng có tốc độ tăng cũng có một số nhóm hàng có giá trị xuất khẩu giảm cụ thể: Sản phẩm từ chất dẻo ước đạt 24,7 triệu USD, giảm 10,9%, chiếm 13,5% tổng giá trị xuất khẩu; Sản phẩm gỗ (bàn ghế gỗ) ước đạt 53,7 triệu USD, giảm 2,9%, chiếm 29,5% tổng giá trị xuất khẩu. * Tình hình nhập khẩu hàng hóa Tháng 01 năm 2026, nhập khẩu ước đạt 48 triệu USD, giảm 27,8% so với tháng trước, so cùng kỳ tăng 26,8%, trong đó: kinh tế tư nhân ước đạt 30,8 triệu USD, tăng 28%, chiếm 64,1% kim ngạch nhập khẩu; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 17,2 triệu USD, tăng 24,7% so cùng kỳ, chiếm 35,9% kim ngạch nhập khẩu. - Nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu tháng 01 năm 2026: Nguyên liệu dùng cho chế biến thủy sản ước đạt khoảng 9 triệu USD, tăng 3,2%, chiếm 18,7% tổng giá trị nhập khẩu; Thức ăn gia súc và nguyên liệu ước đạt 5,3 triệu USD, tăng 96,4%, chiếm 11,0% tổng giá trị nhập khẩu; Vải các loại ước đạt 10,5 triệu USD, tăng 22,3%, chiếm 21,9% tổng giá trị nhập khẩu; Máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng ước đạt 6,2 triệu USD, tăng 63,7% so với cùng kỳ, chiếm 12,8% tổng giá trị nhập khẩu...Bên cạnh đó cũng có một số nhóm ngành hàng giảm như: Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày ước đạt 6,9 triệu USD, giảm 26,1% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 14,3% tổng giá trị nhập khẩu; Hóa chất ước đạt 0,2 triệu USD, giảm 36,8%. b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa tại Gia Lai Tây Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 01 năm 2026 tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 01/2026 ước đạt 210,7 triệu USD, giảm 11,7% so với tháng trước nhưng tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước, cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 69,9 triệu USD. - Kim ngạch xuất khẩu tháng 01 năm 2026 ước thực hiện 190,3 triệu USD, giảm 11,1% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ. Xuất khẩu nông sản chủ lực trên địa bàn Gia Lai Tây vẫn là mặt hàng cà phê với kim ngạch trong tháng 01/2026 ước đạt 153 triệu USD, chiếm khoảng 80,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp của Gia Lai Tây, mặt hàng cà phê xuất khẩu chủ yếu qua thị trường như: Thụy Sĩ, Hà Lan, Nhật Bản… - Kim ngạch nhập khẩu tháng 01 năm 2026 ước thực hiện 20,4 triệu USD, giảm 16,7% so với tháng trước và tăng nhẹ 0,5% so với cùng kỳ. Hình 13. Xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Tây(Tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ) 6. Giá cả Thị trường hàng hóa thế giới có nhiều biến động, ảnh hưởng đến giá cả toàn cầu và nước ta có nền tảng vĩ mô ổn định nhưng vẫn không tránh khỏi bị tác động, đặc biệt là nguyên vật liệu nhập khẩu. Dự báo trong năm 2026, áp lực lạm phát tiếp tục đến từ tác động trễ của tăng trưởng tín dụng. 6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 01/2026 giảm 0,23% so với tháng trước, trong đó: có 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng nhẹ, 3 nhóm hàng giảm giá và 01 nhóm hàng bình ổn giá so với tháng trước. Mức tăng, giảm cụ thể như sau: Nhóm hàng tăng giá mạnh nhất là nhóm đồ uống và thuốc lá (+0,82%), nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,59%), nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (+0,43%), nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (+0,42%), nhóm may mặc, mũ nón, giày dép (+0,10%), thuốc và dịch vụ y tế và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (+0,02%). Nhóm hàng giảm giá: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (- 0,12%), nhóm Thông tin và truyền thông (-0,07%), nhóm giao thông (-3,25%); Nhóm giáo dục là bình ổn giá so với tháng trước.Hình 14. Chỉ số giá tiêu dùng, giá vàng và Đô la Mỹ tháng 01 năm 2026 CPI chung hàng hóa và dịch vụ tháng 01/2026 tăng 2,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có xu hướng tăng và có 2/11 nhóm giảm so với cùng kỳ, cụ thể: + Nhóm hàng có chỉ số giá tăng: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (+9,67%); nhóm thiết bị đồ dùng gia đình (+2,92%), nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+2,87%), nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (+2,36%), nhóm đồ uống và thuốc lá (+2,17%), tiếp theo là các nhóm khác tăng lần lượt: nhóm giáo dục (+1,97%), nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (+1,27%), nhóm may mặc và giày dép (+0,64%), nhóm thuốc và dịch vụ y tế (+0,31%). + Nhóm hàng có chỉ số giảm: nhóm giao thông (-5,2%); nhóm thông tin và truyền thông (-0,23%). 6.2. Chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 01 năm 2026 tăng 4,39% so với tháng trước, tăng 75,44% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 01 năm 2026 giảm 0,09% so với tháng trước, tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước. Hình 15. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ tháng 01 năm 2026 7. Các vấn đề xã hội 7.1. Đời sống dân cư và an sinh xã hội Trong tháng 01 năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, duy trì tăng trưởng; công tác an sinh xã hội được triển khai đồng bộ, kịp thời, bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chăm lo đời sống Nhân dân, đặc biệt đối với các đối tượng chính sách, người có công, hộ nghèo, hộ cận nghèo được thực hiện đầy đủ, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, ổn định đời sống và thu nhập của người dân. Với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã chủ động triển khai kịp thời các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm mọi người dân đều được vui xuân, đón Tết, ấm no và hạnh phúc. Sau hơn một tháng triển khai “Chiến dịch Quang Trung”, 100% các hộ dân bị mất nhà, nhà hư hỏng trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã có nhà ở mới, khang trang, sạch sẽ để được hưởng trọn niềm vui chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. 7.2. Giáo dục[1] Ngành Giáo dục tiếp tục thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo lộ trình; đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển giáo dục STEM. Công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông được triển khai đồng bộ, bám sát định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tỉnh tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; đồng thời triển khai thủ tục xây dựng các trường nội trú liên cấp tại 7 xã biên giới đất liền theo Kết luận số 81 ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị; Tham mưu xây dựng Đề án Phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú trên địa bàn tỉnh Gia Lai theo định hướng giáo dục nghề nghiệp, gắn với thực hiện nhiệm vụ giáo dục an ninh quốc phòng, giai đoạn 2026-2030. 7.3. Y tế[2] Ngành Y tế đã tăng cường hoàn thiện mạng lưới cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành Y tế; xây dựng các nền tảng số trong quản lý, chăm sóc sức khỏe người dân. Triển khai các hoạt động phòng, chống các loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như sốt xuất huyết, sốt rét, tay chân miệng,…các ổ dịch và trường hợp mắc được phát hiện sớm, xử trí kịp thời, không để lây lan trên diện rộng. Trong tháng ngành Y tế tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ các địa phương trên địa bàn tỉnh xử lý bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng. Tuy nhiên, số ca bệnh sốt xuất huyết và dịch tay chân miệng phát sinh trong tháng 01/2026 vẫn còn ở mức cao: Bệnh sốt xuất huyết có 160 ca số mắc mới; Bệnh tay - chân - miệng có 27 ca số mắc mới; Không có trường hợp tử vong do bệnh. Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm: Hoạt động giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm được thực hiện thường xuyên tại các Lễ, hội và tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể trên địa bàn tỉnh. Trong tháng, đã tổ chức giám sát công tác bảo đảm ATTP phục vụ Lễ khánh thành và Lễ khởi công tại Nhà máy Đường An Khê và 70 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể trên địa bàn tỉnh. Trong tháng trên địa bàn tỉnh trên chưa phát hiện trường hợp vi phạm về an toàn thực phẩm. 7.4. Hoạt động văn hóa, thể thao[1] - Về văn hóa: Ngay từ đầu năm 2026, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch theo các nhiệm vụ trọng tâm của UBND tỉnh giao nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch: Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 84-KL/TW ngày 21/6/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, triển khai văn bản đến Phòng Văn hóa - Xã hội các xã, phường; Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh, Trung tâm VH tỉnh, Nhà hát ca múa nhạc tổng hợp Đam San về việc bảo đảm hoạt động biểu diễn nghệ thuật đón Tết Bính Ngọ năm 2026 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm ... - Về du lịch: Tỉnh triển đang khai xây dựng các sản phẩm đặc trưng, truyền thông quảng bá, hỗ trợ thông tin cho khách du lịch đến Gia Lai bằng các chuyến tàu hỏa trong thời gian tới; phối hợp quảng bá trên các chuyến tàu, đáp ứng nhu cầu và tạo ấn tượng tốt đẹp về điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn khi du khách đến với Gia Lai. Tại các khu, điểm, điểm đến du lịch; các cơ sở lưu trú lớn đã trang trí các biểu tượng về Tết cổ truyền Việt Nam tại các khu vực riêng để du khách check-in, chụp ảnh và có nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá hấp dẫn để thu hút khách. Tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được đảm bảo, không phát sinh các vấn đề nổi cộm về môi trường ở địa phương.7.5. Tai nạn giao thông Triển khai Kế hoạch phục vụ nhu cầu vận tải, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán và mùa Lễ hội xuân Bính Ngọ năm 2026. Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh giảm sâu so với cùng kỳ. Trong tháng 01/2026 (từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông, giảm 13,8% (-9 vụ) so với tháng trước và giảm 30,9% (-25 vụ) so với cùng kỳ năm trước; làm 45 người chết, tăng 9,8% (+4 người) so với tháng trước và giảm 15,1% (-8 người) so với cùng kỳ năm trước; làm 18 người bị thương, giảm 57,1% (-24 người) so với tháng trước và giảm 72,7% (-48 người) so với cùng kỳ năm trước. Tháng 01/2026 tổng số phương tiện đăng ký mới: Ô tô đăng ký mới 1.594 ô tô, 9.921 mô tô; nâng tổng số phương tiện đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 2.905.648 phương tiện, trong đó 198.607 ô tô, 2.695.864 mô tô, 7.422 xe máy điện, 3.755 phương tiện khác. Trong tháng 01/2026, lực lượng cảnh sát giao thông đã lập biên bản 9.403 trường hợp, phạt tiền hơn 15,28 tỷ đồng, tạm giữ 36 ô tô, 1.081 mô tô, 10 phương tiện khác và 5.817 giấy tờ phục vụ công tác xử lý; tước GPLX: 255 trường hợp, trừ điểm GPLX: 1.293 trường hợp. 7.6. Vi phạm môi trường Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 38 vụ vi phạm môi trường, tăng gấp 5,4 lần (+31 vụ) so với tháng trước, gấp 2,9 lần (+25 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 16 vụ, tăng gấp 16 lần (+15 vụ) so với tháng trước, tăng 33,3% (+4 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 2.041,4 triệu đồng, tăng gấp 6,6 lần (+1.731,4 triệu đồng) so với tháng trước, tăng gấp hơn 63 lần (+2.009,4 triệu đồng) so với cùng kỳ năm trước. 7.7. Tác động do thiên tai Trong tháng 01 năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu nước thủy triều dâng cao gây thiệt hại 125,0 ha lúa mới gieo sạ./.
Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025
- 10/01/2026 09:54
Năm 2025, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán, đặc biệt là chính sách của Hoa Kỳ và phản ứng của các nước; gia tăng bất ổn về địa chính trị và xung đột quân sự lan rộng ở nhiều quốc gia; căng thẳng thuế quan giữa Hoa Kỳ và các nước làm gián đoạn chuỗi cung ứng, nguy cơ chiến tranh thương mại đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, thiên tai, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng; thách thức đối với đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng... ngày càng gia tăng. Lạm phát vẫn ở mức cao so với mục tiêu của các Ngân hàng Trung ương, điều kiện thị trường tài chính thắt chặt hơn, tăng trưởng kinh tế toàn cầu có xu hướng suy giảm. Năm 2025, kinh tế - xã hội trong tỉnh phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức xuất phát từ những bất ổn chính trị thế giới, khu vực và diễn biến phức tạp của thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu trong nước (đặc biệt là hậu quả do mưa, bão, gây ngập lụt, sạt lở đất, lũ quét trong thời gian gần đây, tỉnh Gia Lai cũng bị thiệt hại nặng nề, đã công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai[1]), ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, với sự quyết tâm, chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị cùng cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đạt được một số kết quả chủ yếu năm 2025 cụ thể như sau: 1. Tăng trưởng kinh tế 1.1. Thông tin chung Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ước năm 2025: - Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá so sánh 2010 ước năm 2025 tăng 7,2%. Trong đó, giá trị tăng thêm của các ngành: + Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,35%; + Công nghiệp - Xây dựng tăng 11,12%; trong đó, Công nghiệp tăng 12,62%; + Dịch vụ tăng 7,38%; + Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 3,15%. Tốc độ tăng GRDP năm 2025 (theo giá so sánh 2010) Quy mô kinh tế của tỉnh đạt 270.698 tỷ đồng; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có xu hướng tích cực tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp – xây dựng, cụ thể: - Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 78.071 tỷ đồng, chiếm 28,84%; - Công nghiệp - xây dựng ước đạt 77.482,8 tỷ đồng, chiếm 28,63%; trong đó, Công nghiệp ước đạt 59.343,6 tỷ đồng, chiếm 21,92%; - Dịch vụ ước đạt 104.499,5 tỷ đồng, chiếm 38,60%; - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 10.644,6 tỷ đồng, chiếm 3,93%. Cơ cấu GRDP theo giá hiện hành GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 85,05 triệu đồng/người, tăng 12,4% (+9,4 triệu đồng/người) so với cùng kỳ. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2025 ước tính đạt 149,59 triệu đồng/lao động, tăng 16,47 triệu đồng/người so với năm 2024. 1.2. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế a) Quý IV/2025 Quý IV/2025, Tổng sản phẩm trên địa bàn tăng 6,57%, trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,09%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,07% và khu vực dịch vụ tăng 7,07%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,91%. Tổng sản phẩm trên địa bàn Quý IV/2025 (theo giá so sánh 2010) ước tính đạt 36.355,4 tỷ đồng, tăng trưởng 6,57% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 10.686 tỷ đồng, tăng trưởng 2,09%, đóng góp 0,64 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 10.472,2 tỷ đồng, tăng trưởng 11,07%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm (công nghiệp ước đạt 6.968 tỷ đồng, tăng trưởng 13,52%, đóng góp 2,43 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ ước đạt 13.899 tỷ đồng, tăng trưởng 7,07%, đóng góp 2,69 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 1.298,2 tỷ đồng, tăng trưởng 4,91%, đóng góp 0,18 điểm phần trăm. Giá trị tăng thêm khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tính quý IV/2025 tăng 2,09%, đóng góp 0,64 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung của toàn nền kinh tế. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 2,77%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,27% nhưng chiếm tỷ trọng thấp, nên chỉ đóng góp 0,09 điểm phần trăm; riêng, ngành thủy sản có mức giảm 4,05%, giảm 0,15 điểm phần trăm. Trong khu vực Công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp có mức tăng trưởng 13,52%, đóng góp 2,43 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung của toàn nền kinh tế; ngành xây dựng tăng trưởng 6,5%, đóng góp 0,63 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ Quý IV/2025 tăng 7,07% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành bán buôn, bán lẻ tăng 7,17% so với cùng kỳ năm trước (đóng góp 0,53 điểm phần trăm); ngành vận tải, kho bãi tăng 13,74% (đóng góp 0,51 điểm phần trăm); dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 1,2% (giảm 0,04 điểm phần trăm); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 6,07% (đóng góp 0,04 điểm phần trăm); hoạt động dịch vụ khác tăng 8,48% (đóng góp 0,09 điểm phần trăm). Quy mô GRDP theo giá hiện hành Quý IV/2025 ước đạt 85.342,8 tỷ đồng. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 30.582,9 tỷ đồng, chiếm 35,84%; khu vực công nghiệp - xây dựng ước đạt 22.619,8 tỷ đồng, chiếm 26,5%; trong đó, công nghiệp ước đạt 16.233,6 tỷ đồng, chiếm 19,02%; khu vực dịch vụ ước đạt 29.181,5 tỷ đồng, chiếm 34,19%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 2.958,6 tỷ đồng, chiếm 3,47%. b) Năm 2025 Năm 2025, Tổng sản phẩm trên địa bàn tăng 7,2%, trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,35%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,12% và khu vực dịch vụ tăng 7,38%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 3,15%. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 (theo giá so sánh 2010) ước tính đạt 122.617,8 tỷ đồng, tăng trưởng 7,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 31.111,2 tỷ đồng, tăng trưởng 3,35%, đóng góp 0,88 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 35.935,9 tỷ đồng, tăng trưởng 11,12%, đóng góp 3,14 điểm phần trăm (Công nghiệp ước đạt 25.866,4 tỷ đồng, tăng trưởng 12,62%, đóng góp 2,53 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ ước đạt 50.642 tỷ đồng, tăng trưởng 7,38%, đóng góp 3,05 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 4.928,7 tỷ đồng, tăng trưởng 3,15%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm. Năm 2025, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh Gia Lai có bước phát triển và tăng trưởng khá, mặc dù trong năm tỉnh chịu ảnh hưởng của cơn bão số 13 và đợt ngập lụt cục bộ tại một số địa phương gây thiệt hại, ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ nền kinh tế của tỉnh. Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,35%, đóng góp 0,88 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung của toàn nền kinh tế. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,85%, đóng góp 0,76 điểm phần trăm. Ngành thủy sản có mức tăng 1,19%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 4,14% nhưng chiếm tỷ trọng thấp, nên chỉ đóng góp 0,06 điểm phần trăm. Trong khu vực Công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp có mức tăng trưởng 12,62%, đóng góp 2,53 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung của toàn nền kinh tế. Trong năm 2025, UBND tỉnh, các ngành liên quan và địa phương trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã tổ chức đối thoại với các doanh nghiệp, thường xuyên gặp gỡ làm việc, nắm bắt tình hình, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp; chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ bồi thường GPMB, bàn giao mặt bằng để nhà đầu tư sớm triển khai nhanh các dự án, thu hút vốn đầu tư. Ngành Xây dựng tăng trưởng 7,43%, đóng góp 0,61 điểm phần trăm. Tình hình xây dựng tại tỉnh Gia Lai trong năm 2025 đang có những bước tiến mạnh mẽ, với sự phát triển đồng bộ của hạ tầng và các dự án đô thị. Năm 2025, nhiều công trình trọng điểm được triển khai đồng bộ như tuyến cao tốc Bắc – Nam, đường cất hạ cánh số 2 và hạ tầng Cảng hàng không Phù Cát, Khu công nghiệp Phù Mỹ, hạ tầng KCN Becamex Bình Định, tuyến đường kết nối thị xã An Nhơn đến ven biển Đầm Thị Nại, đường tránh phía Nam Phú Phong, đường hành lang kinh tế phía đông (đường tránh QL 19), đường Nguyễn Văn Linh, KCN Nam Pleiku cùng các cụm chăn nuôi công nghệ cao. Các dự án này đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng giá trị ngành xây dựng, khẳng định vai trò động lực của hạ tầng đối với phát triển kinh tế – xã hội toàn tỉnh. Năm 2025, việc sáp nhập đơn vị hành chính là một bước ngoặt quan trọng của tỉnh Gia Lai nói riêng và cả nước nói chung. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra một không gian phát triển mới, tỉnh Gia Lai sở hữu hệ sinh thái du lịch độc đáo, kết hợp hài hòa với tiềm năng lợi thế có rừng, có biển, giữa du lịch biển nghỉ dưỡng tại Quy Nhơn, Kỳ Co - Eo Gió, với du lịch sinh thái, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, khám phá đại ngàn Kon Ka Kinh, Biển Hồ… Hệ thống giao thông đồng bộ với cảng biển, sân bay, cao tốc, cửa khẩu tạo điều kiện thuận lợi để kết nối liên vùng, mở rộng thị trường và phát triển các sản phẩm du lịch đa dạng, có chiều sâu. Du lịch đặc thù gắn với lợi thế vào mùa của khu vực hai vùng khí hậu khác nhau, tận dụng mọi lợi thế để tổ chức các sự kiện, lễ hội như lễ hội du lịch hè biển đảo, lễ hội hoa dã quỳ - núi lửa Chư Đăng Ya, các sự kiện văn hóa – thể thao – du lịch phong phú. Trong năm, trên địa bàn tỉnh diễn ra hàng loạt chương trình, lễ hội phục vụ du khách và người dân, thu hút lượng khách đến tỉnh. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng cơn bão số 13 và lũ lụt trong tháng 11/2025 nên khu vực dịch vụ năm 2025 chỉ tăng 7,38% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành bán buôn, bán lẻ tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước (đóng góp 0,61 điểm phần trăm); ngành vận tải, kho bãi tăng 9,02% (đóng góp 0,39 điểm phần trăm); dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,27% (đóng góp 0,18 điểm phần trăm); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,57% (đóng góp 0,1 điểm phần trăm); hoạt động nghệ thuật vui chơi giải trí tăng 14,21% (đóng góp 0,13 điểm phần trăm); hoạt động dịch vụ khác tăng 7,29% (đóng góp 0,08 điểm phần trăm). Quy mô GRDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 270.698 tỷ đồng. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 78.071 tỷ đồng, chiếm 28,84%; khu vực công nghiệp - xây dựng ước đạt 77.482,8 tỷ đồng, chiếm 28,63%; trong đó, công nghiệp ước đạt 59.343,6 tỷ đồng, chiếm 21,92%; khu vực dịch vụ ước đạt 104.499,5 tỷ đồng, chiếm 38,6%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 10.644,7 tỷ đồng, chiếm 3,93%. Hình 3: Một số ngành dịch vụ có mức tăng trưởng cao năm 2025 2. Hoạt động ngân hàng và thu chi ngân sách Nhà nước[1] 2.1. Thu, chi ngân sách Năm 2025, UBND tỉnh Gia Lai đã tăng cường công tác quản lý thu và chống thất thu ngân sách; đẩy mạnh các biện pháp tăng thu, nhất là thu thuế công thương nghiệp - ngoài quốc doanh, thu tiền sử dụng đất, các khoản thu khác. Chỉ đạo các ngành chủ động tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, mở rộng cơ sở thu, tạo nguồn thu bền vững.Hình 4. Thu – Chi ngân sách nhà nước trên địa bàn(Năm 2025 so với cùng kỳ) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 26.656,1 tỷ đồng (đã trừ hoàn thuế GTGT), tăng 30,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 27.517,3 tỷ đồng, tăng 25,7% so cùng kỳ; Thu xuất nhập khẩu ước đạt 544,6 tỷ đồng, giảm 35,3% so cùng kỳ. Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 56.656,6 tỷ đồng, tăng 17,1% so cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 14.981,7 tỷ đồng, giảm 12,1% so cùng kỳ; Chi thường xuyên ước đạt 41.646,2 tỷ đồng, tăng 33% so cùng kỳ. 2.2. Hoạt động ngân hàng Về hoạt động ngân hàng, tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất huy động và cho vay; triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và có hiệu quả các giải pháp, cơ chế, chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Tổng số dư huy động vốn ước tính đến cuối tháng 12/2025 của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai ước đạt 209.000 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ. Tổng dư nợ cho vay tính đến 31/12/2025 ước đạt 248.500 tỷ đồng, tăng 5,0% so với cùng kỳ. Hình 5. Hoạt động ngân hàng(Đến 31/12/2025 so với cùng kỳ) 3. Giá cả Thị trường hàng hóa thế giới có nhiều biến động, ảnh hưởng đến giá cả toàn cầu, và nước ta có nền tảng vĩ mô ổn định nhưng vẫn không tránh khỏi bị tác động, đặc biệt là nguyên vật liệu nhập khẩu. Tại tỉnh Gia Lai, tình hình sản xuất kinh doanh đang phục hồi sau cơn bão 13 và trận lụt lịch sử, ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý IV năm 2025 tăng nhẹ so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. 3.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 12/2025 tăng 0,15% so với tháng trước; tăng 4,97% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2025 tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 12/2025, có 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng giá, 3 nhóm hàng giảm giá và 01 nhóm hàng bình ổn giá so với tháng trước. Mức tăng, giảm cụ thể như sau: Nhóm hàng tăng giá mạnh nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+0,94%), nhóm đồ uống và thuốc lá (+0,35%), nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,18%), nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (+0,17%), nhóm may mặc, mũ nón, giày dép (+0,11%), nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (+0,02%), nhóm giáo dục (+0,02%). Nhóm hàng giảm giá: nhóm thông tin và truyền thông (-0,10%), nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (-0,49%), nhóm giao thông (-1,33%); Nhóm thuốc và dịch vụ y tế là bình ổn giá so với tháng trước. CPI chung hàng hóa - dịch vụ tháng 12/2025 tăng 4,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng chính có 10 nhóm tăng và 01 nhóm giảm, cụ thể: + Nhóm hàng tăng giá: nhóm thuốc và dịch vụ y tế (+20,98%), nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (+10,31%), tiếp theo là các nhóm khác tăng lần lượt: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+4,40%), nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (+3,13%), nhóm thiết bị đồ dùng gia đình (+2,73%), nhóm giáo dục (+1,98%), nhóm đồ uống và thuốc lá (+1,70%), nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (+1,36%), nhóm may mặc và giày dép (+1,14%). + Nhóm hàng giảm giá: nhóm thông tin và truyền thông (-0,31%), nhóm giao thông (-0,68%). Tính chung bình quân năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,11% so với cùng kỳ năm 2024. Có 9/11 nhóm hàng hóa tăng so với cùng kỳ, cụ thể: tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 23,17%; Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 8,17%; nhóm giáo dục tăng 5,84%; Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,84%; Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,53%; Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,23%; Nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,43%; Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35%; Tăng thấp nhất là nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,98%. Ngược lại, có 02 nhóm giảm là nhóm giao thông giảm 2,32%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,49%. Hình 7. Chỉ số CPI tháng 12 năm 2025 3.2. Chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 12 năm 2025 tăng 2,75% so với tháng trước, tăng 70,14% so với cùng kỳ năm trước và tăng 97,10% so với kỳ gốc năm 2024. Bình quân năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 50,40% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 12 năm 2025 tăng 0,13% so với tháng trước, tăng 3,56% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,12% so với kỳ gốc năm 2024. Bình quân năm 2025, chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 3,87% so với cùng kỳ. Hình 8. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ tháng 12 năm 2025 3.3. Giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm, thủy sản Năm 2025, thị trường hàng hóa toàn cầu chịu tác động bởi diễn biến phức tạp của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thế giới. Trong nước, hoạt động sản xuất hàng hóa, dịch vụ duy trì theo hướng tăng trưởng tích cực, bảo đảm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Giá cả ở tỉnh Gia Lai không có biến động lớn, thị trường các mặt hàng phục vụ sản xuất tương đối ổn định không có diễn biến bất thường, nguồn cung được bảo đảm.a) Quý IV năm 2025 Chỉ số chung giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản Quý IV/2025 tăng 3,8% so với quý trước, tăng 3,3% so với cùng kỳ; trong đó: sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 4,4 % so với quý trước, tăng 3,9% so với cùng kỳ; Sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,8% so với quý trước, tăng 3,5% so với cùng kỳ; Sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 0,9 % so với quý trước và tăng 1,1% so với cùng kỳ. - Nhóm sản phẩm từ cây hàng năm tăng 4% so với quý trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ; Trong đó, nhóm rau, đậu, hoa cây cảnh tăng 13,5% so với quý trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ, do mưa bão gây ngập úng làm hư hại nên giá tăng cao nhất; nhóm ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác tăng 1,4% so với quý trước và tăng 6% so với cùng kỳ, do vào vụ thu hoạch nên nguồn cung dồi dào; bên cạnh đó, thóc giảm 1,6% so với quý trước và giảm 6,6% so với cùng kỳ, do giá gạo nhập khẩu giảm mạnh nên giá lúa thị trường trong nước giảm; nhóm sản phẩm cây lấy củ có chất bột giảm 0,8% so với quý trước và giảm 2,7% so với cùng kỳ do vào mùa thu hoạch. - Chỉ số nhóm sản phẩm từ cây lâu năm tăng 7,1% so với quý trước và tăng 2,6% so với cùng kỳ. Sản phẩm cây ăn quả tăng 1,7% so với quý trước và tăng 3,6% so với cùng kỳ do đang hết mùa nên giá tăng; giá hạt hồ tiêu tăng 2% so với quý trước và tăng 2,7% so với cùng kỳ do diện tích thu hẹp, giá thị trường trong nước và xuất khẩu tăng; giá cà phê nhân tăng 9,4% so với quý trước và giảm 3,2% so với cùng kỳ, do đang vào vụ thu hoạch. - Chỉ số nhóm sản phẩm từ chăn nuôi ổn định so với quý trước và tăng 2,1% so với cùng kỳ. Trong đó, giá nhóm sản phẩm trâu, bò tăng 0,4% so với quý trước và giảm 2,2% so cùng kỳ, giá lợn giảm 2,7% so với quý trước và tăng 1,4% so cùng kỳ; giá lợn hơi giảm là do tình hình dịch bệnh ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng của người dân. Hiện nay, mặc dù giá lợn hơi đang có xu hướng tăng nhưng người chăn nuôi vẫn đang thận trọng trong việc tái đàn vì lo ngại dịch bệnh và chi phí đầu vào vẫn ở mức cao; giá nhóm gia cầm tăng 3,9% so quý trước, tăng 4,4% so cùng kỳ do giá trứng các loại và giá con giống tăng để tái đàn vào dịp tết Nguyên Đán. - Dịch vụ nông nghiệp giảm 0,5% so quý trước và tăng 0,9% so với cùng kỳ do hết vụ thu hoạch. b) Năm 2025 Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2025 tăng 0,3% so cùng kỳ. Trong đó, sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 0,06%; Sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,2%; Sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 1,5% so cùng kỳ. - Nhóm sản phẩm từ cây hàng năm tăng 8,7% so cùng kỳ; Trong đó, thóc giảm 6,6% do đã thu hoạch, đồng thời giá gạo xuất khẩu giảm mạnh; ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác tăng 7,6% so cùng kỳ; mía cây tươi giảm 6,3% do đang vào mùa thu hoạch; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 8,7% do giá vừng tăng cao. - Chỉ số nhóm sản phẩm từ cây lâu năm giảm 9% so cùng kỳ, giảm mạnh ở cam, quý và các loại quả có múi. - Chỉ số nhóm sản phẩm từ chăn nuôi tăng 2,7% so cùng kỳ. Trong đó, giá nhóm sản phẩm trâu, bò giảm 1,8% so cùng kỳ, giá lợn tăng 1,2% so cùng kỳ; giá nhóm gia cầm tăng 6,4%. - Dịch vụ nông nghiệp tăng 0,9% so với cùng kỳ. - Chỉ số nhóm thủy sản tăng 1,5% so cùng kỳ; trong đó, chỉ số nhóm thủy sản khai thác tăng 0,2% so cùng kỳ; chỉ số nhóm thủy sản nuôi trồng tăng 11,4% so cùng kỳ do bão lũ gây thiệt hại cho người dân. 3.4. Giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Tại tỉnh Gia Lai, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý IV năm 2025 tăng 1,38% so quý trước và tăng 5,27% so cùng kỳ năm trước. Bình quân cả năm 2025 tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. a) Chỉ số giá Quý IV/2025 - Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý IV/2025 tăng 1,95% so với quý trước và tăng 2,49% so cùng kỳ năm trước. - Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm từ khai khoáng quý IV/2025 tăng 5,76% so với quý trước và tăng 17,64% so cùng kỳ năm trước, do phục vụ nhu cầu xây dựng tuyến đường cao tốc, các công trình giao thông của tỉnh, các dự án chung cư Nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh,… vì vậy mà giá sản phẩm đá, cát, sỏi… tăng mạnh lên, cụ thể: Sản phẩm khai khoáng khác tăng 8,84% so với quý trước và tăng 21,8% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm nguyên vật liệu khác quý IV/2025 tăng 0,54% so quý trước và tăng 4,06% so cùng kỳ năm trước. - Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí quý IV/2025 giảm 0,22% so với quý trước và tăng 10,44% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm nước tự nhiên khai thác quý IV/2025 không tăng so với quý trước và tăng 10,32% cùng kỳ do Công ty CP Cấp thoát nước Bình Định điều chỉnh giá bán. - Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm xây dựng quý IV/2025 tăng 1,35% so quý trước và tăng 4,34% so cùng kỳ, tăng chủ yếu ở các nhóm: dịch vụ hoàn thiện công trình xây dựng tăng 1,60% so với quý trước và tăng 12% so với cùng kỳ; dịch vụ xây dựng chuyên dụng khác tăng 3,03% so với quý trước, tăng 5,44% so với cùng kỳ năm trước. - Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ quý IV năm 2025 không tăng so với quý trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. b) Chỉ số giá bình quân cả năm 2025 Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất bình quân cả năm 2025 tăng 3,65% so với cùng kỳ. Chủ yếu do ảnh hưởng của các nhóm ngành sau: Chỉ số giá nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,82%; Chỉ số giá nguyên vật liệu dùng cho sản phẩm từ khai khoáng tăng 11,76%; Chỉ số giá nguyên vật liệu dùng cho sản phẩm nguyên liệu khác tăng 1,93%; Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,49%; Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm nước tự nhiên khai thác tăng 6,35%; Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm xây dựng tăng 5,03%; Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 8,03%. 3.5. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp a) Chỉ số giá Gia Lai Đông Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý IV/2025 tăng 0,3% so với quý trước và tăng 2% so cùng kỳ: Chỉ số sản phẩm khai khoáng tăng 0,3% so với quý trước và tăng 0,8% so cùng kỳ; Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,4% so với quý trước và tăng 2% so cùng kỳ; Chỉ số giá sản xuất điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,4% so quý trước và tăng 1,6% so cùng kỳ; Chỉ số nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1% so quý trước và tăng 10,2% so cùng kỳ. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp bình quân cả năm 2025 tăng 2,2% so cùng kỳ, chủ yếu do nhóm công nghiệp chế biến chế tạo tăng, cụ thể: Chỉ số sản phẩm khai khoáng tăng 4,7%; Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,2%; Chỉ số giá sản xuất điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,6%; Chỉ số nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%. Chỉ số giá một số nhóm ngành cấp II các nhóm ngành có chỉ số giá tăng như: Quặng kim loại và tinh quặng kim loại tăng 9,8%; Da và các sản phẩm từ da liên quan tăng 6,2%; Nước tự nhiên khai thác và Đồ uống đều tăng 11%; Sản phẩm trang phục tăng 4,6%; Gường tủ bàn ghế tăng 1,8%; Sản phẩm chế biến từ gỗ, tre, nứa tăng 3%%, Hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,1%; Dịch vụ sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 1,6%,... Chiều ngược lại, giảm duy nhất nhóm: Sản phẩm dệt giảm 0,5% do ảnh hưởng của dệt thảm xuất khẩu.b) Chỉ số giá Gia Lai Tây Quý IV năm 2025, chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý IV/2025 tăng 1% so với quý trước và tăng 1,2% so cùng kỳ: Chỉ số sản phẩm khai khoáng giữ ổn định so với quý trước và so cùng kỳ; Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,8% so với quý trước nhưng giảm 1,5% so cùng kỳ; Chỉ số giá sản xuất điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,3% so quý trước và tăng 1,9% so cùng kỳ; Chỉ số nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải giữ ổn định so quý trước và so cùng kỳ. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp năm 2025 ước tăng 1,2% so cùng kỳ chủ yếu do nhóm công nghiệp chế biến chế tạo tăng, cụ thể: Chỉ số sản phẩm khai khoáng giữ chỉ số ổn định. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,7%; Chỉ số giá sản xuất điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,7%; Chỉ số nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải giữ chỉ số ổn định. Chỉ số giá một số nhóm ngành cấp II các nhóm ngành có chỉ số giá tăng như: sản phẩm dệt tăng 270,5%; sản phẩm chế biến, sửa chữa khác tăng 7,8%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 5,4%; sản phẩm chế biến thực phẩm tăng 0,9%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,7%... Chiều ngược lại, duy chỉ có nhóm: Sản phẩm chế biến gỗ và sản phẩm chế biến từ gỗ, tre, nứa ( trừ gường, tủ, bàn, ghế); từ rơm, rạ và vật liêu tết bện giảm0,1% do ảnh hưởng của mặt hàng gỗ ván xuất khẩu chậm./. 3.6. Chỉ số sản xuất dịch vụ a) Chỉ số giá sản xuất dịch vụ Gia Lai Đông Chỉ số chung giá sản xuất dịch vụ tăng 0,4% so với quý trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ. Cụ thể: vận tải kho bãi giảm 1,2% so với quý trước và tăng 9,2% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 1,2% so với quý trước và tăng 1,4% so với cùng kỳ, nguyên nhân giảm do trong quý lượng khách du lịch giảm vì thời tiết bão lụt ngập nặng tại địa phương. Dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 2,1% so với quý trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ; Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 2,2% so với quý trước và tăng 23,1% so với cùng kỳ do nhu cầu của cán bộ công chức sau sáp nhập tăng mạnh; Dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 0,2% so với quý trước và tăng 1,3% so với cùng kỳ…Ngược lại như: Dịch vụ hành chính và hỗ trợ giảm 0,3% so với quý trước và so với cùng kỳ. Một số chỉ số giữ chỉ số ổn định. Chỉ số bình quân chung cả năm 2025 so với cùng kỳ tăng 9,8%, cụ thể: dịch vụ vận tải kho bãi tăng 9,4%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 2,6%; dịch vụ thông tin và truyền thông tăng 0,1%; dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,7%; dịch vụ bất động sản tăng 17,2%; dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 1,3%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 7,3%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 36,9%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 1,5%; dịch vụ khác tăng 5,8%; dịch vụ làm thuê các công việc trong các hộ gia đình, sản phẩm vật chất tự sản xuất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình tăng 9,1%. Duy nhất chỉ có nhóm dịch vụ hành chính và hỗ trợ giảm 0,8%. b) Chỉ số giá sản xuất dịch vụ Gia Lai Tây Chỉ số chung giá sản xuất dịch vụ tăng 0,5% so với quý trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ. Cụ thể: vận tải kho bãi giảm 0,8% so với quý trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 0,1% so với quý trước và tăng 7,4% so với cùng kỳ, nguyên nhân giảm do trong quý lượng khách du lịch giảm vì thời tiết mưa nhiều tại địa phương. Dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 1,7% so với quý trước và tăng 6,1% so với cùng kỳ; Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 1,5% so với quý trước và tăng 7% so với cùng kỳ; Dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 0,2% so với quý trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ; Dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 2,1% so với quý và tăng 9,8% so với cùng kỳ; Dịch vụ khác tăng 1,5% so với quý trước và 3,8% so với cùng kỳ…Ngược lại như: Dịch vụ hành chính và hỗ trợ giảm 0,3% so với quý trước và so với cùng kỳ. Một số chỉ số giữ chỉ số ổn định. Chỉ số bình quân chung cả năm 2025 so với cùng kỳ tăng 8,2%, cụ thể: dịch vụ vận tải kho bãi tăng 11,4%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,3%; dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,3%; dịch vụ bất động sản tăng 4,3%; dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng 2,6%; dịch vụ giáo dục và đàotạo tăng 5,8%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 23,6%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 4,8%; dịch vụ khác tăng 3,9%. Ngược lại, có 3 nhóm giảm như: dịch vụ thông tin và truyền thông giảm 0,1%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ giảm 0,7%; dịch vụ làm thuê các công việc trong các hộ gia đình, sản phẩm vật chất tự sản xuất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình giảm 9,3%. 4. Vốn đầu tư phát triển – Xây dựng 4.1. Vốn đầu tư phát triển Năm 2025 là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng và tạo nền tảng cho giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế có nhiều biến động, tỉnh Gia Lai đã tập trung chỉ đạo huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư, nhất là vốn đầu tư công, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2025 duy trì mức tăng khá, với cơ cấu vốn chuyển dịch theo hướng tập trung vào đầu tư hạ tầng. Trong đó, vốn Nhà nước Trung ương và đầu tư xây dựng cơ bản tăng cao, giữ vai trò chủ lực trong việc thúc đẩy triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm. Vốn khu vực ngoài Nhà nước tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, góp phần duy trì mặt bằng đầu tư chung; vốn FDI duy trì tăng trưởng nhưng quy mô còn hạn chế. Tuy nhiên, vốn Nhà nước địa phương và một số khoản mục đầu tư khác giảm, phản ánh những khó khăn nhất định trong cân đối nguồn lực và triển khai đầu tư. Nhìn chung, kết quả thực hiện cơ bản đáp ứng mục tiêu và phù hợp với tiến độ kế hoạch năm. Tổng mức thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2025 ước đạt 85.330,6 tỷ đồng, tăng 8,9% so với cùng kỳ.Hình 9. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn(Năm 2025 so với cùng kỳ) Theo nguồn vốn, vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 29.796,4 tỷ đồng, chiếm 34,9%, tăng 14,3% so với cùng kỳ; vốn ngoài Nhà nước ước đạt 53.705,6 tỷ đồng, chiếm 62,9%, tăng 6,3% so với cùng kỳ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 1.828,6 tỷ đồng, chiếm 2,2%, tăng 1,6% so với cùng kỳ. Theo khoản mục đầu tư, vốn đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 71.485,7 tỷ đồng, chiếm 83,8%, tăng 15%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 6.871,4 tỷ đồng, chiếm 8,1%, giảm 20,6%; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản cố định ước đạt 5.723 tỷ đồng, chiếm 6,7%, giảm 4%; đầu tư bổ sung vốn lưu động ước đạt 1.220,2 tỷ đồng, chiếm 1,4%, giảm 24,7% và vốn đầu tư khác ước đạt 30,3 tỷ đồng, tăng 487,4% so với cùng kỳ. Riêng nguồn vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý năm 2025 ước đạt 16.325,1 tỷ đồng, đạt 86,2% kế hoạch năm, tăng 32,8% so cùng kỳ.Hình 10. Vốn đầu tư thực hiện nguồn vốn NSNN do địa phương quản lýnăm 2025 (tỷ đồng) 4.2. Hoạt động xây dựng Giao thông luôn giữ vai trò “đi trước mở đường”, là bệ phóng quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi địa phương. Năm 2025, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh Gia Lai tiếp tục ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của tỉnh. Chính phủ đã đẩy mạnh đầu tư công, đặc biệt là vào các dự án hạ tầng giao thông và đô thị. Song song đó, giá trị gia tăng của các nông sản chủ lực như tiêu, cà phê đã thúc đẩy nhu cầu xây dựng nhà ở, nhà kho, sân phơi phục vụ sản xuất, cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Ngoài nguồn lực từ nông nghiệp, tỉnh cũng chú trọng triển khai các chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp xanh và du lịch bền vững. Nhiều dự án khu dân cư, trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học hiện đại được hình thành, vừa đáp ứng nhu cầu của người dân, vừa tạo sức hút đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Mạng lưới giao thông tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt với các tuyến cao tốc và đường ven biển, giúp rút ngắn kết nối trong nội tỉnh và với các địa phương lân cận, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển vật liệu, thi công và đưa công trình về đích đúng tiến độ. Cùng với đó, chính sách đầu tư ngày càng thông thoáng của tỉnh đã khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp. Gia Lai hiện có tiềm năng lớn trong phát triển khu công nghiệp và đô thị mới. Nhu cầu xây dựng nhà ở, hạ tầng du lịch và công nghiệp đang mở ra thị trường rộng lớn cho các dự án xây dựng. Năm 2025, nhiều công trình trọng điểm được triển khai đồng bộ đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng giá trị sản xuất ngành xây dựng, khẳng định vai trò động lực của hạ tầng đối với phát triển kinh tế – xã hội toàn tỉnh. Tình hình thực hiện một số công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh Dự án đường bộ cao tốc Bắc – Nam qua địa bàn tỉnh đang được các nhà thầu tập trung thi công các hạng mục cuối cùng để phấn đấu thông xe toàn tuyến cao tốc vào ngày 19/12/2025. Đặc biệt, trong tháng 8/2025, hòa chung không khí cả nước chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025), tỉnh Gia Lai đã khởi công 6 dự án và khánh thành 2 dự án trọng điểm, nổi bật như Khu công nghiệp Phù Mỹ (giai đoạn 1) với quy mô 436,87 ha, dự án đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng Hàng không Phù Cát, khu sản xuất, chế biến nông, lâm sản tập trung (VinaNutrifood Bình Định) tại xã Tây Sơn (giai đoạn 1). Ngoài ra, có 3 dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Bình Thành, Cát Hiệp, Cát Hanh. Đồng thời khánh thành 2 dự án Tuyến đường kết nối đường Tây tỉnh ĐT.638 – ĐT.639 tại Phù Mỹ (818,6 tỷ đồng); Xây dựng tuyến đường tránh phía Nam thị trấn Phú Phong (791 tỷ đồng). Các dự án của Bộ, ngành triển khai trên địa bàn tỉnh và các dự án giao thông trọng điểm tại địa phương đang tiếp tục được triển khai đều đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng công trình: Đường nối từ Quốc lộ 19 đến Khu công nghiệp Becamex VSIP Bình Định kết nối với Cảng Quy Nhơn, đường ven biển tỉnh Bình Định đoạn Cát Tiến - Diêm Vân; Nút giao thông khác mức tại khu vực ngã 5 Đống Đa - Hoa Lư; tuyến đường kết nối từ khu đô thị khoa học và giáo dục Quy Hòa đến khu đô thị Long Vân, Bảo tàng tỉnh Gia Lai, mở rộng Bệnh viện Mắt Bình Định (giai đoạn 2), đường hành lang kinh tế phía Đông (đường tránh QL 19), dự án đường Mang Yang - Ia Pa (tỉnh lộ 666), đường tỉnh 669 và đường từ Pleiku đi trung tâm xã Đak Đoa, đường nối từ Quốc lộ 19 (đường Quang Trung) đi đường vành đai phía Bắc An Khê. Các dự án du lịch – nghỉ dưỡng và công nghệ cao được đẩy mạnh như: khách sạn Xuân Diệu, trung tâm nghiên cứu FPT Software, Greenhill Village, Cát Hải Bay. Nhiều dự án chung cư đang xây dựng như: Chung cư Lamer 2, chung cư 08 Trần Bình Trọng, chung cư Phú Tài 2 - Central Life, khu phức hợp cao tầng nhà ở chung cư và dịch vụ thương mại thuộc khu tái định cư Đê Đông - Nhơn Bình, dự án khu phức hợp căn hộ Quy Nhơn Seaview. Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều trang trại chăn nuôi công nghệ cao được đẩy nhanh tiến độ thực hiện như DHN Gia Lai, Hùng Phát Farm, Thành Đạt Gia Lai. Các dự án công nghiệp trọng điểm đang triển khai gồm: KCN Nhơn Hòa, KCN Phù Mỹ, Cụm CN Nhơn Tân 1, Nhà máy may Mascot (Đan Mạch), nhà máy cà phê Future Enterprises (Singapore), nâng công suất Nhà máy đường Quảng Ngãi, Nhà máy đường Ayun Pa, và Nhà máy viên nén gỗ Phú An Thành Gia Lai. 5. Tình hình doanh nghiệp và xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp[1] 5.1. Tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệpHình 11. Tình hình hoạt động doanh nghiệp năm 2025 Năm 2025, toàn tỉnh có 3.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 38,2% so với năm 2024. Kết quả này phản ánh môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi, thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư và khuyến khích hoạt động khởi nghiệp. Tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới đạt 27.000 tỷ đồng, tăng 37,4% so với năm trước. Vốn bình quân một doanh nghiệp đạt 9 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,6% so với năm 2024. Mặc dù tổng vốn đăng ký tăng, vốn bình quân giảm cho thấy sự xuất hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp nhỏ, khởi nghiệp với quy mô vốn khiêm tốn, nhưng vẫn duy trì ổn định về mức vốn đầu tư. 5.2. Xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpKhác với xu hướng các năm trước khi quý IV thường tăng trưởng mạnh so với quý III, trong năm 2025, tình hình sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo chỉ cải thiện nhẹ, với 34,62% doanh nghiệp đánh giá tốt lên, 34,61% giữ nguyên, 30,77% cho rằng khó khăn hơn, chỉ số cân bằng đạt 3,85 điểm. Nguyên nhân chủ yếu do bão lũ gây thiệt hại nặng và làm gián đoạn sản xuất trong tháng 11/2025, khiến đà tăng trưởng không đạt mức cao như thông lệ. Dù vậy, một số ngành vẫn ghi nhận tín hiệu tích cực như chế biến thực phẩm, giấy và sản phẩm từ giấy, hóa chất và giường, tủ, bàn, ghế; trong khi đồ uống, trang phục và sản phẩm kim loại đúc sẵn tiếp tục gặp khó khăn. Dự kiến Quý I/2026 so với Quý IV/2025, có 35,9% doanh nghiệp dự báo tốt lên, 42,95% giữ nguyên, chỉ 21,15% dự báo khó khăn hơn, đưa chỉ số cân bằng toàn ngành lên 14,74 điểm. Về khối lượng sản xuất, Quý IV/2025, khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo chỉ tăng nhẹ so với quý III, với 32,05% doanh nghiệp đánh giá tốt lên, 39,1% giữ nguyên, 28,85% cho rằng khó khăn hơn, chỉ số cân bằng đạt 3,2 điểm. Xu hướng Quý I/2026 so với Quý IV/2025, có 35,26% nhận định sản xuất tăng, 45,51% giữ nguyên và chỉ 19,23% dự báo giảm, đưa chỉ số cân bằng lên 16,03 điểm, phản ánh kỳ vọng phục hồi khi hoạt động sản xuất dần ổn định trở lại. Về số lượng đơn đặt hàng mới, quý IV/2025 so với quý trước, xu hướng đơn đặt hàng mới của ngành chế biến, chế tạo còn trầm lắng. Toàn ngành chỉ có 21,71% doanh nghiệp dự báo tăng, trong khi 26,97% dự báo giảm, 48,76% giữ nguyên, làm chỉ số cân bằng giảm 5,26 điểm. Dự báo quý tiếp theo so với quý hiện tại, triển vọng đơn đặt hàng được cải thiện rõ rệt khi 33,77% doanh nghiệp kỳ vọng tăng, 21,19% dự báo giảm, đưa chỉ số cân bằng lên 12,58 điểm. Về sử dụng công suất máy móc, thiết bị, Quý IV/2025, tỷ lệ sử dụng công suất máy móc, thiết bị bình quân của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 72,29%, cho thấy năng lực sản xuất đang được tận dụng ở mức khá. Một số ngành sử dụng công suất cao như sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu (90%), sản xuất đồ uống (83,33%), sản xuất trang phục (82,92%), phản ánh nhu cầu sản xuất ổn định hoặc cao; trong khi một số ngành còn tỷ lệ thấp như chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (59,82%), sản xuất sản phẩm cao su và plastic (65%), sản xuất giường tủ bàn ghế (70,24%) cho thấy một phần công suất chưa được khai thác hết, do ảnh hưởng gián đoạn sản xuất từ bão lũ và sức cầu chưa hồi phục hoàn toàn. 6. Sản xuất nông nghiệp Tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết có sự phân hóa rõ giữa hai vùng. Ngành Nông nghiệp tỉnh Gia Lai đã đạt được những bước tiến đáng ghi nhận trong bối cảnh thời tiết diễn biến phức tạp và thị trường có nhiều biến động. Tiếp tục thực hiện kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên diện tích đất trồng lúa, mía, sắn, điều, hồ tiêu, cao su kém hiệu quả sang trồng rau, củ, quả, cây dược liệu và các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, phù hợp với nhu cầu thị trường ở những chân đất thích hợp và dành một phần quỹ đất để phát triển các khu, vùng, dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. 6.1. Sản xuất nông nghiệp a) Trồng trọt * Cây hàng năm: Diện tích gieo trồng cây hàng năm 2025 ước đạt 479.298,4 ha, giảm 2,1% (-10.340,9 ha) so với cùng kỳ. Trong đó, tổng diện tích lúa năm 2025 ước đạt 169.572,3 ha, tăng 1,4% (+2.266,3 ha) so với cùng kỳ: vụ Đông Xuân đạt 73.654,1 ha, tăng 1,9% (+1.367,1 ha) so với cùng kỳ; vụ Hè Thu đạt 42.161,3 ha, tăng 2,7% (+1.097,2 ha) so cùng kỳ; vụ Mùa đạt 53.756,9 ha, giảm 0,4% (-198 ha) so với cùng kỳ. Năng suất gieo trồng lúa bình quân cả năm ước đạt 63,1 tạ/ha, tăng 1,0% (+ 0,6 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng lúa cả năm ước đạt 1,07 triệu tấn, tăng 2,2% (+22,98 nghìn tấn) so với cùng kỳ. Ước tính sản lượng một số cây trồng cạn năm 2025 so cùng kỳ: Ngô đạt 267,36 nghìn tấn, giảm 0,5% (-1,36 nghìn tấn); lạc đạt 51.844,2 tấn, giảm 0,3% (-158,6 tấn); rau các loại đạt 849.071,4 tấn, tăng 1,3% (+11,14 nghìn tấn); đậu các loại đạt 20.133,7 tấn, tăng 2,1% (+410 tấn). * Cây lâu năm Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng được quan tâm triển khai, ứng dụng tưới tiên tiến tiết kiệm nước ngày càng được quan tâm, cơ giới hóa trong nông nghiệp có bước phát triển mới; sản xuất nông nghiệp bước đầu phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến; tăng cường thâm canh tăng vụ, ứng dụng các giống mới và các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; các cây công nghiệp chủ lực như cây cao su, cà phê, tiêu, mắc ca, điều được đầu tư theo chiều sâu gắn với thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả kinh tế; với lợi thế sẵn có quỹ đất rộng nên tỉnh Gia Lai đang ngày càng thu hút nhiều doanh nghiệp về đầu tư các dự án nông nghiệp công nghệ cao tạo ra các sản phẩm nông sản ngày càng đáp ứng được nhu cầu thị trường. Theo kết quả sơ bộ, tổng diện tích cây lâu năm ước đạt 294.011,9 ha, tăng 1% (+2.878,3 ha) so với cùng kỳ. Tổng sản lượng cây lâu năm ước đạt 1.087,4 nghìn tấn, tăng 6,9% (+70,4 nghìn tấn) so cùng kỳ, cụ thể: - Diện tích cây ăn quả ước đạt 39.248,8 ha, tăng 9,4% (+3.374,4 ha) so với cùng kỳ, một số cây ăn quả chủ lực của tỉnh là chuối, sầu riêng, chanh leo, bơ. Sản lượng thu hoạch cây ăn quả ước năm 2025 là 456 nghìn tấn, tăng 12,9% (+52,2 nghìn tấn) so với cùng kỳ. Trong đó diện tích và sản lượng cây sầu riêng đang là điểm sáng trong lĩnh vực cây ăn quả, diện tích ước đạt 9.028,8 ha, tăng 13,2% so cùng kỳ, sản lượng năm 2025 ước đạt 52,3 nghìn tấn, tăng 25,3% (+10,5 nghìn tấn) so cùng kỳ. Cây sầu riêng là cây được các hộ dân lựa chọn để chuyển đổi cây trồng kém hiệu quả, già cỗi. Giá trị cây sầu riêng mang lại hiệu quả kinh tế cao giúp các hộ dân tăng thu nhập, ổn định đời sống. Cây chanh leo cũng là cây có tốc độ tăng cao trong nhóm cây ăn quả, diện tích ước đạt 4.383 ha, tăng 22,7% (+809,7 ha) so cùng kỳ, do năm nay giá chanh leo tăng cao hơn các năm trước, dao động từ 18 – 25 ngàn đồng/kg, đây là mức giá các hộ dân trồng chanh leo thu lợi nhuận cao, cùng với đó là là các doanh nghiệp chế biến sản xuất chanh dây tăng công suất nên đây là động lực các hộ dân mở rộng diện tích, tiến hành trồng trên các diện tích trống, các diện tích chuyển đổi các loại cây kém hiệu quả, bên cạnh đó các hộ tận dụng các diện tích trồng mới, các diện tích kiến thiết cơ bản của các loại cây khác để tiến hành trồng xen. Năm nay cây chanh leo được đầu tư chăm sóc mạnh hơn nên năng suất cao hơn năm trước, sản lượng ước đạt 95,3 nghìn tấn tăng 19,7% (+15,7 nghìn tấn) so cùng kỳ. - Diện tích cây điều ước đạt 40.230,6 ha, giảm 2% (-829,4 ha) so cùng kỳ. Diện tích điều giảm do các hộ dân chuyển một số diện tích trồng đã già cỗi kém hiệu quả, cho năng suất thấp sang trồng keo, dâu tằm, đậu, mỳ và các loại cây trồng khác có hiệu quả, giá trị kinh tế hơn. Giá hạt điều năm nay bình quân 34 nghìn đồng/kg, với mức giá trên các hộ trồng điều có điều kiện để đầu tư chăm sóc vườn điều tốt hơn nên năng suất tăng. Sản lượng điều năm 2025 ước đạt 38,1 nghìn tấn, tăng 1,9% (+0,7 nghìn tấn) so cùng kỳ. - Diện tích trồng cây tiêu ước đạt 8.420,3 ha, giảm 1,4% (-119,7 ha), nguyên nhân giảm do ảnh hưởng cơn bão số 13 đã làm một số diện tích bị gãy đổ, bên cạnh đó một số diện tích tiêu bị nhiễm bệnh khó chăm sóc làm ảnh hưởng đến diện tích tiêu toàn tỉnh. Sản lượng cây hồ tiêu năm 2025 ước đạt khoảng 26,6 nghìn tấn, tăng 1,6% (+0,4 nghìn tấn) so với cùng kỳ; Sau thời gian dài giá cây tiêu giảm sâu thì năm nay giá cây tiêu đã có dấu hiệu khởi sắc đã tạo động lực cho người dân đầu tư, chăm sóc vườn tiêu với nhiều kỳ vọng giá tiêu tiếp tục tăng các năm tiếp theo. - Diện tích cây cao su ước đạt 85.717 ha, giảm 0,2% so cùng kỳ (-193,2 ha); trong đó, diện tích cao su của doanh nghiệp chiếm 82,7%, đa số là diện tích của các doanh nghiệp quốc phòng đóng trên địa bàn tỉnh, sản lượng cao su toàn tỉnh ước đạt 84,1 nghìn tấn, tăng 3,4% (+2,8 nghìn tấn) so với cùng kỳ. Diện tích cây cao su chiếm tỷ trọng lớn trong nhóm cây công nghiệp đã giải quyết công ăn việc làm hàng nghìn lao động. Hiện nay giá mủ có xu hướng tăng nhẹ, kỳ vọng cho các doanh nghiệp thời gian tới sẽ tiến hành khai thác mủ lại các diện tích chưa khai thác. - Cây cà phê đang bắt đầu bước vào vụ thu hoạch chính, thời tiết trên địa bàn nắng ráo nên tạo điều kiện cho các hộ dân tiến hành thu hoạch và phơi sấy sản phẩm. Hiện nay, giá cà phê đang duy trì ở mức dao động từ 100-125 ngàn đồng/kg, mặc dù có nhiều biến động giảm song với giá này cũng đem lại niềm vui cho rất nhiều hộ dân trồng cà phê, mang lại thu nhập cao tạo động lực tích cực cho bà con thu hoạch và chăm sóc vườn cây. Diện tích cây cà phê ước đạt 108.389,6 ha tăng 0,9% (+971,3 ha) so cùng kỳ, sản lượng ước đạt 340,6 nghìn tấn, tăng 4,8% (+15,6 nghìn tấn) so cùng kỳ. - Cây chè ước đạt diện tích 295,4 ha, giảm 37,8% (-179,7 ha) so cùng kỳ, trong đó: chè búp ước đạt 248,1 ha, sản lượng ước đạt 2,1 nghìn tấn, giảm 38,5% (-1,3 nghìn tấn) so với cùng kỳ. Toàn bộ diện tích cây chè búp ở Gia Lai được trồng ở các địa bàn phía Gia Lai Tây. Diện tích chè búp năm nay giảm, nguyên nhân chính do Công ty chè Biển Hồ phá bỏ phần diện tích chè lâu năm già cỗi cho năng suất thấp để chuyển sang trồng cà phê có giá trị kinh tế cao hơn, do đó sản lượng chè năm nay cũng giảm so với cùng kỳ. Hình 12. Sản lượng một số cây trồng chủ yếu cây lâu năm(Năm 2025 so với cùng kỳ) b) Chăn nuôi Trong năm 2025, ngành chăn nuôi tỉnh Gia Lai tiếp tục ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ, trong lĩnh vực chăn nuôi cả về quy mô đàn, năng suất và hiệu quả sản xuất. Hoạt động chăn nuôi được duy trì ổn định, công tác quản lý kiểm soát chăn nuôi, phát triển tái đàn gắn với phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường. Đàn trâu ước đến ngày 01/01/2026 là 26.709 con, giảm 2,9% (-804 con) so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi năm 2025 ước đạt 3.459,1 tấn, giảm 6,4% (-234,7 tấn) so với cùng kỳ. Số lượng đàn trâu có xu hướng ngày cảng giảm là do thương phẩm hiệu quả kinh tế thấp; diện tích chăn thả dần thu hẹp; thịt trâu không tiêu thụ phổ biến ở địa phương, dự báo đàn trâu sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian đến. Đàn bò của tỉnh ước đến ngày 01/01/2026 đạt 793.817 con, tăng 1,8% (+13.964 con) so với cùng kỳ; trong đó, bò sữa có 14.299 con, tăng 3,1% (+437 con). Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 90.750,2 tấn, giảm 1,4%(-1.286,4 tấn) so với cùng kỳ. Trong khi sản lượng sữa bò ước đạt 73.508 tấn, giảm 3,8% (-2.932,5 tấn). Sản lượng bò sữa giảm là do trong năm Công ty CP chăn nuôi bò thịt, bò sữa Cao Nguyên (Nutifood) thanh lý đàn bò cái sữa. Ước tính tại thời điểm ngày 01/01/2026, tổng đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) đạt 1.681.101 con, tăng 13,8% (+203.949 con) so với cùng kỳ. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2025 ước đạt 315.603,6 tấn, tăng 13,7% (+37.987,7 tấn). Nguyên nhân tăng trưởng mạnh mẽ này do đàn lợn ở phía Tây tỉnh phát triển mạnh, tăng 29,3% nhờ vào giá thịt lợn ổn định trong thời gian dài, tạo động lực cho người chăn nuôi mở rộng quy mô sản xuất. Trong khi đó, vào cuối quý II đầu quý III, khu vực phía Đông tỉnh xảy ra dịch bệnh tả lợn Châu Phi, mặc dù đã phục hồi nhưng tổng đàn lợn (không kể lợn con theo mẹ) vẫn giảm 2% so với thời điểm 01/01/2025; làm ảnh hưởng đến tốc độ chung của toàn tỉnh. Đàn gia cầm phát triển khá, thể hiện xu hướng tăng ổn định cả về số lượng và chất lượng đàn. Ước tính đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) đến thời điểm 01/01/2026 đạt 18.428,4 nghìn con, tăng 7,8% (+1.333,7 nghìn con) so với cùng kỳ; trong đó, đàn gà 16.008,3 nghìn con, tăng 7,6% (+1.134,2 nghìn con) so với cùng kỳ. Sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng năm 2025 ước đạt 59.483,2 tấn, tăng 10,8% (+5.782,2 tấn) so với cùng kỳ.Hình 13. Số lượng gia súc, gia cầm và sản lượng xuất chuồng(Năm 2025 so với cùng kỳ) 6.2. Lâm nghiệp Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong tỉnh năm 2025, tiếp tục đà tăng trưởng, chủ yếu khai thác gỗ rừng trồng tăng, do đến thời kỳ khai thác; đẩy mạnh nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả rừng trồng bằng biện pháp thâm canh rừng trồng sản xuất, sử dụng cây giống nuôi cấy mô, cây giống lâm nghiệp mới chất lượng cao phục vụ trồng rừng cây gỗ lớn. Diện tích rừng được quản lý chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh toàn tỉnh ổn định. Công tác bảo vệ rừng, ngăn chặn việc phá rừng, khai thác rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được lãnh đạo các cấp, các ngành quan tâm. Trong tháng 12 diện tích trồng mới tập trung được 3.892,4 ha, giảm 7% (- 291,8 ha) so với cùng kỳ. Năm 2025, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 23.155,3 ha, giảm 13% (-3.446,7 ha) so cùng kỳ. Các đơn vị chuyên môn đang tiếp tục triển khai các kế hoạch chăm sóc rừng đã trồng, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, tiếp tục trồng rừng các đợt tiếp theo cho kịp kế hoạch đã đề ra.Hình 14. Tình hình lâm nghiệp(Năm 2025 so với cùng kỳ) Tổng sản lượng gỗ khai thác năm 2025 ước đạt 2.262.143,7 m³ tăng 4,5% (+97.559,7 m³) so với cùng kỳ, gỗ khai thác chủ yếu là các loại gỗ nguyên liệu dùng trong sản xuất và nhu cầu thiết yếu của hộ gia đình. Sản lượng củi khai thác trong năm 2025 đạt 686.753 ster, tăng 3,5% (+23.392,6 ster) so với cùng kỳ. Lượng gỗ khai thác chủ yếu các cành rừng trồng; củi khai thác chủ yếu từ cành cây lâu năm và thu nhặt củi từ rừng. Nhờ quản lý tốt công tác bảo vệ rừng nên trong tháng không xảy ra tình trạng cháy rừng. Năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy rừng trồng, diện tích rừng bị thiệt hại 6,2 ha, giảm 246 ha so cùng kỳ. Diện tích rừng bị phá: Lũy kế từ đầu năm đến nay, phát hiện và lập biên bản 56 vụ, diện tích rừng bị phá 19,9 ha, giảm 68,0% (-42,3 ha ) so với cùng kỳ. 6.3. Thủy sản Năm 2025, thời tiết khá thuận lợi cho việc khai thác và nuôi trồng thủy hải sản. Thời gian qua, tỉnh Gia Lai quyết liệt chỉ đạo triển khai các giải pháp chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), xem đây là nhiệm vụ hàng đầu. Kết quả, công tác này có nhiều chuyển biến tích cực. Tổng sản lượng thủy sản năm 2025 ước đạt 300.692,6 tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: cá đạt 259.390,3 tấn, tăng 1,2%; tôm đạt 9.838,3 tấn, giảm 1,5%; thủy sản khác đạt 31.464,0 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ.Hình 15. Sản lượng thủy sản(Năm 2025 so với cùng kỳ) - Khai thác thủy sản: Tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, tạo điều kiện cho các tàu thuyền vươn khơi bám biển. Tổng lượng khai thác thủy sản năm 2025 ước đạt 281.951,6 tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: cá đạt 250.628,3 tấn, tăng 1,2%; tôm đạt 1.483,5 tấn, tăng 16,1%; thủy sản khác đạt 29.839,8 tấn, tăng 3,5%. - Nuôi trồng thủy sản: Ngành Thủy sản tỉnh tiếp tục khuyến khích nuôi tôm chất lượng cao và đầu tư kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi ao hồ từ quảng canh cải tiến sang thâm canh, bán thâm canh; tuyên truyền, vận động người nuôi chọn giống ít nhiễm bệnh và hạn chế nuôi tôm sú, chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng. Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2025 ước đạt 18.741,0 tấn, tăng 0,3% (+54,4 tấn) so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: cá đạt 8.762,0 tấn, tăng 1,4% (+118,9 tấn); tôm đạt 8.354,8 tấn, giảm 4,0% (-351,1 tấn), nguyên nhân chủ yếu do một số Công ty giảm diện tích nuôi tôm thẻ và các hộ dân cư khu vực Tuy Phước, Phù Cát, Hoài Nhơn...bị thu hồi diện tích nuôi trồng do thuộc diện giải phóng mặt bằng các công trình xây dựng; thủy sản khác đạt 1.624,2 tấn, tăng 21,4% (+286,6 tấn) so với cùng kỳ; nguyên nhân tăng cao do nhiều hộ chuyển sang nuôi ốc hương và hàu trên địa bàn các xã. 7. Sản xuất công nghiệp Năm 2025, tỉnh Gia Lai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện địa giới hành chính được sắp xếp, tổ chức lại, đặt ra yêu cầu vừa ổn định tổ chức bộ máy, vừa đảm bảo duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; thị trường tiêu thụ chưa thực sự ổn định; giá cả nguyên, nhiên vật liệu biến động cùng với tác động của thiên tai, thời tiết cực đoan trên địa bàn, hoạt động sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn chịu không ít khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ngành, địa phương và nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai vẫn duy trì đà tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9% so với cùng kỳ năm 2024, đạt mục tiêu tăng trưởng theo kế hoạch của tỉnh đã đề ra, tạo nền tảng cho phát triển công nghiệp trong giai đoạn tiếp theo. 7.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) So với tháng trước, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12 năm 2025 tăng 17,99%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,62%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 33,33%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,82%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 4,08%. So với cùng kỳ, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12 năm 2025 tăng 9,28%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,29%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,09%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng mạnh 39%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,92%. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động, đặc biệt là việc Hoa Kỳ áp dụng chính sách thuế quan mới đối với một số nhóm hàng xuất khẩu, cùng với tác động của bão số 13 và mưa lũ xảy ra trên địa bàn tỉnh trong tháng 11/2025 đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất công nghiệp của Gia Lai trong năm 2025. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo kịp thời của UBND tỉnh, sự chủ động, nỗ lực khắc phục khó khăn của các doanh nghiệp, ngành công nghiệp của tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực với chỉ số sản xuất công nghiệp cả năm 2025 tăng 9% so với năm 2024. Trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện tiếp tục là động lực chính đóng góp vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Hình 16. Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (Năm 2025 so với cùng kỳ) Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,61%. Nguyên nhân chủ yếu do trữ lượng khoáng sản tại một số mỏ trên địa bàn tỉnh đang dần cạn kiệt, nhiều doanh nghiệp hết thời hạn giấy phép khai thác đã phải tạm dừng hoạt động hoặc chuyển hướng sang các ngành nghề sản xuất, kinh doanh khác; trong đó, khai khoáng khác giảm 1,62%. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,1%. Mức tăng này phản ánh nỗ lực duy trì sản xuất của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường tiêu thụ gặp khó khăn và chịu ảnh hưởng của thiên tai vào cuối năm. Tình hình sản xuất ở một số ngành chủ yếu của tỉnh: - Ngành chế biến thực phẩm tăng 7,91%, do một số sản phẩm chủ yếu tăng khá. Cụ thể, thức ăn cho gia súc tăng 5,97%; thức ăn cho gia cầm tăng 10,22%, nhờ sự tham gia thị trường của các doanh nghiệp mới, góp phần mở rộng quy mô sản xuất và cung ứng cho ngành chăn nuôi. Nhóm sản phẩm thủy sản đạt mức tăng trưởng cao, trong đó sản lượng tôm đông lạnh tăng mạnh 170,74% so với năm trước, do doanh nghiệp chế biến tôm đông lạnh mới đi vào hoạt động ổn định, góp phần nâng cao năng lực chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh. Sản phẩm sữa và kem chưa cô đặc tăng 8,96%, phản ánh hoạt động sản xuất ổn định của các doanh nghiệp chế biến sữa. Sản lượng đường RS tăng 26,82%, bù đắp phần giảm của đường RE giảm 13,6%, do cơ cấu sản phẩm và nhu cầu thị trường có sự điều chỉnh trong năm. Tuy nhiên, một số sản phẩm chế biến thực phẩm có sản lượng giảm như: tinh bột sắn giảm 8,84% do giá sắn nguyên liệu không ổn định, người dân chuyển đổi sang cây trồng khác; nước cam, chanh, quít, bưởi tươi giảm 12,47% do vùng nguyên liệu thu hẹp, ảnh hưởng đến công suất hoạt động của các cơ sở chế biến. - Ngành sản xuất trang phục tăng 11,71%, phản ánh sự ổn định tương đối của ngành may mặc trong năm 2025. Các doanh nghiệp trong ngành đã chủ động tổ chức lại sản xuất, duy trì đơn hàng đến hết năm, đồng thời tăng cường sản xuất trong những tháng cuối năm để bù đắp thời gian bị gián đoạn do bão lũ trong tháng 11/2025. - Ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 0,44%. Nguyên nhân chủ yếu do một số doanh nghiệp triển khai đầu tư, lắp đặt dây chuyền sản xuất mới; trong quá trình thi công, một số dây chuyền hiện hữu phải tạm dừng hoạt động, đồng thời tiến độ lắp đặt bị ảnh hưởng bởi mưa lũ, khiến sản lượng chung tăng chậm. - Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 25,81%, đóng góp chủ yếu từ sản lượng gạch ốp lát tăng rất mạnh 174,96%, nhờ một số dự án đầu tư mới đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả trong năm. - Ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 0,63%, do nhu cầu tiêu thụ giảm và thị trường xây dựng chưa phục hồi hoàn toàn; trong đó, sản lượng tấm lợp kim loại giảm 20,58%. - Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 2,69%. Nguyên nhân do đơn hàng xuất khẩu giảm dưới tác động của chính sách thuế thương mại của Hoa Kỳ, cùng với ảnh hưởng trực tiếp của bão lũ trong tháng 11/2025 gây ngập úng nhà xưởng, hư hỏng nguyên vật liệu và gián đoạn sản xuất, làm giảm năng suất và tiến độ giao hàng của các doanh nghiệp. Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 23,05%, là ngành đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Sản lượng điện sản xuất tăng 36,83%, chủ yếu nhờ điều kiện thủy văn thuận lợi, các hồ thủy điện tích trữ nước tốt và một số dự án mở rộng công suất đi vào hoạt động ổn định. Điện gió và điện mặt trời tiếp tục duy trì mức tăng, trong khi điện thương phẩm giảm 2,22% do nhu cầu tiêu thụ chưa phục hồi hoàn toàn. Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,31%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 3,97%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 31,82%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 12,97%, phản ánh nhu cầu tăng cao trong công tác xử lý môi trường, đặc biệt sau các đợt mưa lũ lớn trên địa bàn tỉnh. 7.2. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo So với tháng trước, chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng 12/2025 tăng 21%, phản ánh rõ sự phục hồi sản xuất và tiêu thụ sau bão lũ xảy ra trong tháng 11/2025. Nhiều doanh nghiệp sau khi ổn định hoạt động đã tăng tốc sản xuất, đẩy mạnh giao hàng để bù đắp thời gian gián đoạn, làm cho một số ngành tăng rất cao như chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 162,48%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 130,92%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 52,76%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 45,95%. Trong khi một số ngành giảm như dệt giảm 20,38% và sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 21,97%. So với cùng kỳ, chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng 12/2025 tăng 3,82%. Một số ngành tăng khá như sản xuất đồ uống tăng 36,67%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 27,46%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,04%; chế biến thực phẩm tăng 9,65%. Ngược lại, nhiều ngành giảm như sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 40,66%; dệt giảm 25,65%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 21,87%. Năm 2025, chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng 5,47% so với cùng kỳ. Một số ngành có mức tăng tiêu thụ cao như sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 21,36%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,26%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 8,32%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 7,78%; chế biến thực phẩm tăng 7,98%. Ngược lại, một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm như sản xuất đồ uống giảm 3,83%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 2,07%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 18,15%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 21,46%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 8,23%. 7.3. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo So với tháng trước, chỉ số tồn kho ngành công nghiệp tháng 12/2025 tăng 4,9%, phản ánh xu hướng tồn kho tăng trở lại khi nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất vào thời điểm cuối năm. Một số ngành có mức tăng tồn kho cao như sản xuất chế biến thực phẩm tăng 37,81%; dệt tăng 22,08%; sản xuất trang phục tăng 5,51%. Ngược lại, tồn kho giảm mạnh ở một số ngành như sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 53,94%; sản xuất đồ uống giảm 35,47%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 29,74%. So với cùng kỳ, chỉ số tồn kho toàn ngành tháng 12/2025 tăng 1,11%, cho thấy mức tích trữ hàng hóa nhìn chung ổn định. Một số ngành có tồn kho tăng cao so với cùng kỳ như sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 82,27%; sản xuất trang phục tăng 28,3%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 18,21%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 10,06%. Trong khi đó, tồn kho giảm mạnh ở sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 57,18%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 38%; dệt giảm 11,82%. 7.4. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động tháng 12/2025 tăng 3,09% so với tháng trước do ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế sử dụng nhiều lao động đang có nhu cầu tuyển dụng công nhân phục vụ sản xuất tăng sau bão lũ và đang là thời điểm chính vụ (+7,48%). Trong đó, Khai khoáng giảm 0,28%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,51%; Sản xuất và phân phối điện tăng 0,04%; Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giữ ổn định. Chỉ số sử dụng lao động tháng 12/2025 giảm 1,81% so cùng kỳ do một số nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gặp khó khăn, phải thu hẹp quy mô sản xuất dẫn đến lao động giảm so cùng kỳ như ngành Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 15,02%; Sản xuất đồ uống giảm 4,67%; Dệt giảm 5,1%. Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ chỉ số sử dụng lao động tháng 12/2025 của khối doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,87%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao nhất 8,62%; riêng khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 4,61%. 8. Thương mại, dịch vụ 8.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ Năm 2025 sáp nhập đơn vị hành chính là một bước ngoặt quan trọng của tỉnh Gia Lai nói riêng và cả nước nói chung. Sự kết hợp đa dạng về mặt kinh tế cũng như văn hóa, du lịch tạo nên một Gia Lai “Tinh hoa Đại ngàn, Biển xanh hội tụ” góp một phần vào sự phát triển chung của cả nước. Mục tiêu của tỉnh thúc đẩy tiêu dùng nội địa, phát triển thương mại theo hướng hiện đại, bền vững, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Triển khai các chương trình phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2025- 2027 trên địa bàn tỉnh. Tháng 12 là thời điểm cuối năm, đặc biệt là dịp Lễ, Tết Nguyên đán đang đến gần, do đó nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tại Gia Lai dự báo sẽ tăng cao. Các mặt hàng tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, quà Tết, đồ gia dụng, quần áo, và các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu sẽ được tiêu thụ mạnh mẽ. Các trung tâm thương mại, siêu thị và cửa hàng bán lẻ trên địa bàn tỉnh dự báo lượng khách hàng đến mua sắm tăng cao. Các doanh nghiệp bán lẻ đang chuẩn bị các chiến lược marketing, khuyến mãi hợp lý để tận dụng thời cơ này. Gia Lai đã chủ động tham gia và phối hợp tổ chức nhiều chương trình xúc tiến thương mại, không chỉ trong nội tỉnh mà còn tại các thị trường trong nước và quốc tế nhằm quảng bá sản phẩm nông sản, OCOP và sản phẩm công nghiệp nông thôn. Trong tháng 12/2025, Gia Lai trưng bày 23 sản phẩm OCOP tiêu biểu tại Vietnam OCOP Festival 2025 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp tổ chức, góp phần nâng cao hình ảnh sản phẩm địa phương trên sân chơi quốc gia. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tỉnh Gia Lai tháng 12/2025 ước đạt 16.816 tỷ đồng, tăng 3,8% so với tháng trước do nhu cầu của người dân mừng Giáng sinh và tết Dương lịch, tăng 14,3% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 12 tháng năm 2025 ước đạt 198.689,8 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ, trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 149.395,7 tỷ đồng, tăng 12,4%; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 28.764,7 tỷ đồng, tăng 16,4%; du lịch lữ hành ước đạt 1.197,9 tỷ đồng, tăng 15,4%; dịch vụ khác ước đạt 19.331,5 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.Hình 17. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (Năm 2025 so với cùng kỳ)a) Tổng mức bán lẻ hàng hóa Tình hình hoạt động ngành thương mại năm 2025 tỉnh Gia Lai có xu hướng phát triển ổn định với nhu cầu mua sắm tăng cao vào dịp cuối năm, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Hiện nay, các doanh sản xuất kinh doanh và các cơ sở chế biến thực phẩm cũng đang đẩy mạnh sản xuất đảm bảo nguồn cung ổn định trong dịp Tết. Hoạt động liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản được tăng cường. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đang theo dõi sát sao tình hình giá cả, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, để tránh tình trạng tăng giá đột biến. Các biện pháp bình ổn giá cũng được triển khai áp dụng, nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm của Nhân dân tại địa phương trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2026. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 12 năm 2025: Ước đạt 13.215 tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước. Vì là tháng cuối năm nên các ngành đều có xu hướng tăng cụ thể: Lương thực, thực phẩm ước đạt 5.304,8 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước (do nhu cầu của xã hội trong dịp lễ Giáng sinh và tết Dương lịch) và tăng 16,1 so với cùng kỳ; Hàng may mặc ước đạt 638,7 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước (do nhu cầu xã hội ngày càng cao, việc ăn mặc đẹp trong các dịp Lễ, Tết) và tăng 9,6% so với cùng kỳ; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.384,4 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước (nhu cầu mua sắm những đồ dùng cần thiết khi thời tiết giao mùa), và tăng 28,5% so với cùng kỳ; Vật phẩm, văn hóa, giáo dục ước đạt 119,3 tỷ đồng, tăng 9,1% so với tháng trước (do nhu cầu về đồ dụng, dụng cụ học tập của học sinh các cấp tăng nhằm chuẩn bị cho kỳ thi cuối học kỳ I năm học 2025-2026) và tăng 8,5% so với cùng kỳ; Gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.731,3 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước (khắc phục những ảnh hưởng sau bão và các công trình đầu tư có vốn nhà nước đang được triển khai để đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công) và tăng 22,2% so với cùng kỳ; Nhóm ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) ước đạt 90,9 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước (do nhu cầu người dân ngày càng cao) và tăng 2,1% so với cùng kỳ; Nhóm xăng dầu các loại ước đạt 1.862,5 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước (nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa) và tăng 10,4% so với cùng kỳ; Đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước đạt 257,1 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước, tăng 33,1% so với cùng kỳ do ảnh hưởng của giá vàng thế giới; Dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước đạt 260,5 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước (tăng do sửa chữa phương tiện bị ngâm nước sau bão, lũ), tăng 14,6% so với cùng kỳ; Nhóm hàng hóa khác ước đạt 869,1 tỷ đồng tăng 3,2% so với tháng trước do nhu cầu mua sắm dịp lễ tết và cuối năm và tăng 8,5% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2025 ước đạt 149.395,7 tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ. Như vậy, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và sản xuất phục hồi ổn định. Cơ cấu bán lẻ chuyển biến theo hướng hiện đại, phản ánh sức mua của thị trường nội địa ổn định và niềm tin tiêu dùng được củng cố. Các nhóm hàng tăng trưởng cao như: - Đá quý, kim loại và sản phẩm ước đạt 2.639,3 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ, chủ yếu do diễn biến giá vàng thế giới tăng cao ảnh hưởng tới giá vàng trong nước trong thời gian tương đối dài; - Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 14.887,6 tỷ đồng, tăng 16,5% so với cùng kỳ; - Hàng gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 17.434,7 tỷ đồng, tăng 19,5% so với cùng kỳ; - Lương thực, thực phẩm ước đạt 62.053,4 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ; - Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước đạt 2.699 tỷ đồng, tăng 5,5% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhu cầu dịch vụ sửa chữa, thay thế phụ tùng xe sau khắc phục do bị ảnh hưởng cơn bão số 13 và ngập lụt; - Hàng may mặc ước đạt 7.216,9 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ; - Xăng, dầu các loại ước đạt 23.020,8 tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá năng lượng trong nước điều chỉnh giảm và nhu cầu vận chuyển, sản xuất bị ảnh hưởng trong thời gian bị bão, ngập lụt; - Vật phẩm văn hóa – giáo dục ước đạt 1.305,7 tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ. Hình 18. Doanh thu nhóm ngành bán lẻ hàng hóa(Năm 2025 so với cùng kỳ) a) Dịch vụ Từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tỉnh Gia Lai mới chính thức được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra một không gian phát triển mới, tỉnh Gia Lai sở hữu hệ sinh thái du lịch độc đáo, kết hợp hài hòa với tiềm năng lợi thế có rừng, có biển, giữa du lịch biển nghỉ dưỡng tại Quy Nhơn, Kỳ Co - Eo Gió, với du lịch sinh thái, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, khám phá đại ngàn Kon Ka Kinh, Biển Hồ… Hệ thống giao thông đồng bộ với cảng biển, sân bay, cao tốc, cửa khẩu tạo điều kiện thuận lợi để kết nối liên vùng, mở rộng thị trường và phát triển các sản phẩm du lịch đa dạng, có chiều sâu. Du lịch đặc thù gắn với lợi thế vào mùa của khu vực hai vùng khí hậu khác nhau, tận dụng mọi lợi thế để tổ chức các sự kiện, lễ hội như lễ hội du lịch hè biển đảo, lễ hội hoa dã quỳ - núi lửa Chư Đăng Ya, các sự kiện văn hóa – thể thao – du lịch phong phú… Tỉnh Gia Lai diễn ra hàng loạt chương trình, lễ hội phục vụ du khách và người dân, thu hút lượng khách đến tỉnh. Các hoạt động qui mô lớn như: Giải Võ cổ truyền các võ đường Bình Định tranh cúp Hoàng đế Quang Trung lần thứ VII năm 2025; Phối hợp với các tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng, Kon Tum xây dựng gian hàng chung “Du lịch Tây Nguyên - Đại ngàn vẫy gọi” quảng bá tại ngày Hội Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh; phối hợp với các tỉnh Đắk Lắk, Phú Yên xây dựng gian hàng chung “Đại ngàn Tây Nguyên giao hòa cùng biển cả” quảng bá tại Hội chợ Du lịch Quốc tế VITM Hanoi 2025; tổ chức Cuộc thi nghề đan lát, dệt thổ cẩm và ẩm thực truyền thống tạo ra các sản phẩm phục vụ du lịch trên địa bàn tỉnh năm 2025. Hàng tuần vào thứ 7,CN các nghệ nhân sẽ biểu diễn cồng chiêng tại Quảng trường Đại Đoàn kết. Giải vô địch Golf – Gia Lai 2025. Giải Vô địch Trẻ Kickboxing tỉnh Gia Lai lần thứ I, năm 2025. Lễ hội Biển khai mạc hoành tráng với chủ đề “Khát vọng Biển xanh – Đại ngàn tỏa sáng”. Chương trình nghệ thuật đặc sắc, hội tụ tinh hoa âm nhạc – nghệ thuật truyền thống và hiện đại… Ước tháng 12 năm 2025: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành tháng 12/2025 ước đạt 1.942,8 tỷ đồng, tăng 9,3% so với tháng trước, tăng 6,8% so với cùng kỳ. Trong đó: + Dịch vụ lưu trú đạt 172,6 tỷ đồng, tăng 18,2% so với tháng trước và giảm 8,9% so với cùng kỳ. Lượt khách lưu trú trong tháng 12/2025 đạt 335.192 lượt, tăng 5,6% so với tháng trước, giảm 20,7% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm so với cùng kỳ vì trong tháng bị ảnh hưởng mưa lụt kéo dài, ngập cục bộ ở phía Đông tỉnh thời gian làm tác động trực tiếp đến lượng khách so với cùng kỳ năm ngoái thời điểm này nắng ráo thời tiết đẹp ít mưa. Ngày khách phục vụ đạt 495.098 ngày khách, tăng 32,3% so tháng trước và giảm 1,2% so cùng kỳ. + Tháng 12/2025 là tháng cao điểm của hội nghị tổng kết, đại hội… cuối năm; do đó, doanh thu ngành ăn uống tăng khá, ước đạt 1.770,2 tỷ đồng, tăng 8,5% so tháng trước và tăng 8,6% so cùng kỳ. + Dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính trong tháng 12/2025 ước đạt 43,6 tỷ đồng, tăng 6,9% so với tháng trước và giảm 10,1% so cùng kỳ. Số lượt khách du lịch theo tour tháng 12/2025 ước đạt 24.764 lượt, giảm 12,4% so với tháng trước và giảm 9,7% so với cùng kỳ. Ngày khách du lịch theo tour ước đạt 35.251 ngày khách, giảm 17,1% so với tháng trước và giảm 34,1% so cùng kỳ. Thời gian này, các tour tới tỉnh Gia Lai ít vì ảnh hưởng nhất của phía Đông tỉnh bị mưa nhiều kéo dài. - Ngành dịch vụ khác, ước đạt 1.614,7 tỷ đồng, tăng 6,9% so với tháng trước và tăng 12,3% so cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 388,4 tỷ đồng, tăng 8,5% so với tháng trước và tăng 3,7% so cùng kỳ; Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 196,6 tỷ đồng, tăng 5,5% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ; Dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 84,8 tỷ đồng, tăng 15,5% so với tháng trước và tăng 5,3% so với cùng kỳ; Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 212,2 tỷ đồng, tăng 111% so với tháng trước và tăng 33,4% so với cùng kỳ. Dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 313,4 tỷ đồng, tăng 7,9% so với tháng trước, tăng 10,3% so cùng kỳ; Dịch vụ khác ước đạt tăng 419 tỷ đồng tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng kỳ. - Ngành dịch vụ thông tin và truyền thông ước đạt 202,2 tỷ đồng, tăng 6,4% so với quý trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ; Dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ ước đạt 547 tỷ đồng, tăng 10,1% so với quý trước và tăng 10,3% so với cùng kỳ. Năm 2025, nhóm ngành lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 28.764,7 tỷ đồng, tăng 16,4%; trong đó, lưu trú ước đạt 3.312,6 tỷ đồng tăng 13,7%; ăn uống ước đạt 25.452,1 tỷ đồng, tăng 16,8%; lữ hành ước đạt 1.197,9 tỷ đồng, tăng 15,4%. Nhóm dịch vụ khác ước đạt 19.331,5 tỷ đồng, tăng 15%; trong đó, tất cả các ngành có sự tăng trưởng tốt: Dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 5.599,4 tỷ đồng, tăng 17,3% so cùng kỳ; Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 2.251,5 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ; Dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 923 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ; Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 2.075,9 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ. Dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 3.846,3 tỷ đồng, tăng 15,1% so cùng kỳ; Dịch vụ khác ước đạt tăng 4.635 tỷ đồng tăng 12,5% so với cùng kỳ. Nhóm ngành Dịch vụ thông tin và truyền thông ước đạt 754,6 tỷ đồng, tăng 15%, trong đó dịch vụ phát thanh, truyền hình đạt tốc độ tăng cao nhất (+25%); dịch vụ điện ảnh đạt tốc độ tăng trưởng cao thứ hai (+24,1%); Dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 1.975,7 tỷ đồng, tăng 18,4% so cùng kỳ. 8.2. Dịch vụ vận tải, kho bãi Thời tiết tháng 12 ở tỉnh Gia Lai đang dần về cuối mùa mưa, các đoạn đường Quốc lộ 1D, đèo An Khê bị hư hại do ảnh hưởng của bão số 13 đã sớm được UBND tỉnh chỉ đạo sửa chữa khắc phục. Đây cũng là giai đoạn các doanh nghiệp, hộ kinh doanh ráo riết chuẩn bị nguyên vật liệu, hàng hóa để gia tăng sản xuất – thương mại dịp cuối năm. Vì vậy tình hình hoạt động kinh doanh vận tải kho bãi nói chung trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong tháng 12/2025 đã có xu hướng khởi sắc. a) Vận tải hành khách Sản lượng vận chuyển hành khách tháng 12/2025 ước đạt 7.279,7 nghìn HK, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 979,9 triệu HK.km, tăng 3,9% so với tháng trước, tăng 30,1% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, sản lượng vận tải hành khách ước vận chuyển 21.542,1 nghìn hành khách, tăng 23,6% so với cùng kỳ; luân chuyển 2.904,8 triệu HK.km, tăng 27,3% so với cùng kỳ; Tổng lượng hành khách luân chuyển đường bộ và đường thuỷ năm 2025 đạt 83.067,1 nghìn HK, tăng 15,6% và luân chuyển đạt 10.963 triệu HK.km, tăng 16,2%; Hình 19. Vận chuyển và luân chuyển vận tải hành khách, hàng hóa(Năm 2025 so với cùng kỳ) b) Vận tải hàng hóa Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 12/2025 đạt 5.027,1 nghìn tấn, tăng 6,2% so với tháng trước và tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 757,7 triệu tấn.km, tăng 5,8% so với tháng trước và tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, sản lượng vận tải hàng hóa ước vận chuyển 14.821,5 nghìn tấn, tăng 17,2% so cùng kỳ; luân chuyển 2.243,8 triệu tấn.km, tăng 25,1% so với cùng kỳ; Tổng lượng hàng hóa luân chuyển đường bộ và đường thuỷ năm 2025 ước đạt 56.318,2 nghìn tấn, tăng 12,9% và luân chuyển đạt 8.298,9 triệu tấn.km, tăng 13,1%. Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 12 năm 2025 ước đạt 1.450 nghìn TTQ, tăng 85,5% so với tháng trước (do tháng 11 cảng ngưng hoạt động những ngày bị bão số 13 và lũ lụt, hàng hóa không thông qua cảng được, nên dồn qua tháng 12), tăng 53,1% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2025 sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển ước đạt 13.767 nghìn TTQ, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Hình 20. Doanh thu vận tải, hỗ trợ vận tải; bưu chính và chuyển phát(Năm 2025 so với cùng kỳ) c) Doanh thu vận tải Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi tháng 12/2025 đạt 1.752,6 tỷ đồng, cả năm 2025 ước đạt 19.580,4 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: - Doanh thu vận tải hành khách tháng 12/2025 ước đạt 478,4 tỷ đồng, tăng 4% so với tháng trước và tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 27,3% so với tổng doanh thu vận tải, kho bãi. Năm 2025, doanh thu vận tải hành khách đạt 5.311,2 tỷ đồng, tăng 16%, chiếm 27,1% so với tổng doanh thu; - Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 12/2025 ước đạt 865,1 tỷ đồng, tăng 6,2% so với tháng trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng cao nhất 49,4% so với tổng doanh thu vận tải, kho bãi. Năm 2025, doanh thu vận tải hàng hóa dự tính đạt 9.457,8 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng cao nhất 48,3%. - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12/2025 ước đạt 384,4 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,6%, chiếm 21,9% so với tổng doanh thu vận tải, kho bãi. Năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4.521,9 tỷ đồng, tăng 6,5%, chiếm 23,1%. - Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng 12/2025 ước đạt 24,7 tỷ đồng, tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng thấp nhất 1,4% so với tổng doanh thu vận tải, kho bãi. Năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát đạt 289,5 tỷ đồng, tăng 3,7%, chiếm tỷ trọng thấp nhất 1,5% so cùng kỳ. 8.3. Hoạt động xuất, nhập khẩu Năm 2025, tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động lớn do tác động bởi các xung đột địa chính trị kéo dài ở Ukraine, Trung Đông và bất ổn chính trị ở hàng loạt nền kinh tế lớn đã ảnh hưởng đến kinh tế thế giới, nhiều quốc gia điều chỉnh chính sách tiền tệ, đầu tư, thương mại để thích ứng sự thay đổi. Trước khó khăn đó, Việt Nam có nhiều chính sách linh hoạt thích ứng tốt với những thay đổi trong chuỗi cung ứng toàn cầu, duy trì ổn định thị trường xuất khẩu chính, đồng thời tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do để mở rộng thị trường xuất khẩu nên kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng trưởng cao. Cùng với xu hướng chung cả nước, tình hình xuất khẩu hàng hóa năm 2025 của tỉnh Gia Lai rất khởi sắc, đạt kết quả tích cực. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Gia Lai tháng 12/2025 đạt 319,4 triệu USD, tăng 8,6% so với tháng trước và giảm 27,9% so với cùng kỳ, cụ thể: xuất khẩu ước đạt 231,7 triệu USD, tăng 2,6% so với tháng trước và giảm 36% so với cùng kỳ; nhập khẩu ước đạt 87,7 triệu USD, tăng 28,2% so với tháng trước, tăng 8,2% so với cùng kỳ. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Gia Lai tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng ấn tượng, với tổng kim ngạch ước đạt 4.432,5 triệu USD, tăng 14% so cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 3.447,5 triệu USD, tăng 14,7% và tăng 19,7% so với số kế hoạch đề ra (kế hoạch năm 2025 xuất khẩu đạt 2.880 triệu USD). Nhập khẩu ước đạt 985 triệu USD, tăng 11,7% so cùng kỳ. Góp chung cho cả nước hàng hóa xuất siêu ước đạt 2.462,5 triệu USD.Hình 21. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tỉnh Gia Lai(Năm 2025 so với cùng kỳ) a) Xuất nhập khẩu hàng hóa tại Gia Lai Đông Thực hiện Quyết định số 2928/QĐ-UBND ngày 15/8/2024 của UBND tỉnh Bình Định về việc ban hành Phương án điều tra xuất, nhập khẩu hàng tháng tỉnh Bình Định. Trên cơ sở đó, Chi cục Thống kê tỉnh Bình Định thu thập thông tin, tổng hợp và báo cáo UBND tỉnh về hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Bình Định cũ từ năm 2024 đến nay. Đối với tỉnh Gia Lai cũ, Chi cục Thống kê tỉnh Gia Lai cũ không thực hiện báo cáo này, nên số liệu hàng hóa xuất nhập khẩu do Sở Công thương thu thập báo cáo UBND tỉnh Gia Lai cũ. Từ ngày 01/7/2025, khi sáp nhập tỉnh Gia Lai mới, Thống kê tỉnh Gia Lai chỉ thu thập thông tin chi tiết từng mặt hàng, nhóm hàng, tổng hợp và báo cáo hàng hóa xuất nhập khẩu phạm vi tỉnh Bình Định cũ theo Quyết định số 2928/QĐ-UBND ngày 15/8/2024 của UBND tỉnh Bình Định.Hình 22. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Gia Lai Đông (Năm 2025 so với cùng kỳ) Tháng 12 năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đối với Gia Lai Đông ước đạt 213,8 triệu USD, tăng 17,4% so với tháng trước, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước; cụ thể, xuất khẩu ước đạt 161,2 triệu USD, tăng 15,7% so với tháng trước, giảm 8,7% so với cùng kỳ; nhập khẩu ước đạt 52,6 triệu USD, tăng 22,9% so với tháng trước, so với cùng kỳ tăng 2,3%. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn Gia Lai Đông 2.322,5 triệu USD, tăng 4,7% so cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 1.787,5 triệu USD, tăng 2,0%. Nhập khẩu ước đạt 535 triệu USD, tăng 14,5% so cùng kỳ. Góp chung cho cả tỉnh hàng hóa xuất siêu ước đạt 1.252,5 triệu USD. * Tình hình xuất khẩu hàng hóa Tháng 12 năm 2025, xuất khẩu ước đạt 161,2 triệu USD, tăng 15,7% so tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 8,7% (cùng kỳ đạt 176,5 triệu USD). Ước năm 2025, xuất khẩu ước đạt 1.787,5 triệu USD, tăng 2%; trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 29,6 triệu USD, giảm 38,4%; kinh tế tư nhân ước đạt 1.444,5 triệu USD, tăng 3,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 313,4 triệu USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu 12 tháng năm 2025: Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh Gia Lai Đông bao gồm: Gỗ, sản phẩm gỗ, hàng dệt may, hàng thủy sản, sản phẩm từ chất dẻo (sản phẩm chính là bàn ghế nhựa giả mây). Ngoài ra, một số mặt hàng khác cũng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu như; gạo, sắn và các sản phẩm từ sắn… Cả năm 2025, các nhóm hàng xuất khẩu tăng/giảm so với cùng kỳ như: Nhóm thủy sản với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 150,7 triệu USD, tăng 13,2%; Mặt hàng gỗ (chủ yếu là viên nén gỗ và mặt hàng dăm gỗ) ước đạt 423,3 triệu USD, tăng 2,5%; Sản phẩm gỗ (bàn ghế gỗ) ước đạt 480,6 triệu USD, tăng 5,8%; Hàng dệt may xuất khẩu ước đạt 390,7 triệu USD, tăng 11,7%... Ngược lại cũng có một số nhóm ngành hàng giảm, cụ thể: Mặt hàng gạo xuất khẩu ước đạt 29,6 triệu USD, giảm 38,4%; Sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 74,2 triệu USD, giảm 8,6%; Sản phẩm từ chất dẻo (sản phẩm chính là bàn ghế nhựa giả mây) ước đạt 188,9 triệu USD, giảm 14,4% so với cùng kỳ… Thị trường xuất khẩu hàng hóa trực tiếp 12 tháng năm 2025 Mười hai tháng năm 2025, xuất khẩu trực tiếp ước đạt 1.784,8 triệu USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ; cụ thể qua 5 châu lục: - Châu Á ước đạt 620,2 triệu USD, giảm 4,6% so với cùng kỳ, chiếm 34,8%, Châu Á chủ yếu xuất khẩu qua các thị trường như Nhật Bản ước đạt 337,8 triệu USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ; Thị trường Trung Quốc ước đạt 163 triệu USD, giảm 26,6% so với cùng kỳ; Thị trường Philippines ước đạt 30,3 triệu USD, giảm 38,9%; Xuất khẩu qua thị trường Đài Loan đạt 19,3 triệu USD, tăng 219,5% so với cùng kỳ, các mặt hàng qua thị trường gồm có một số mặt hàng như hàng dệt may; hàng thủy sản. - Châu Âu ước đạt 392,9 triệu USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ, chiếm 22%, xuất khẩu chủ yếu qua các thị trường như; Đức, Anh, Hà Lan và Bỉ; các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm từ chất dẻo, sản phẩm gỗ. - Châu Mỹ ước đạt 708,3 triệu USD (với 25 nước), tăng 7,3% so với cùng kỳ, chiếm 39,7%, trong đó thị trường Mỹ ước đạt 657,3 triệu USD, tăng 8,8%. - Châu Đại Dương ước đạt 43,5 triệu USD, tăng 25,2% so với cùng kỳ, chiếm 2,4%, xuất khẩu chủ yếu qua các thị trường New Zealand và Australia các mặt xuất khẩu qua thị trường này chủ yếu là mặt hàng gỗ và các sản phẩm gỗ; - Châu Phi ước đạt 19,9 triệu USD, tăng 63,6% so với cùng kỳ, chiếm 1,1%, mặt hàng xuất khẩu qua châu lục này chủ yếu là gỗ ước đạt 10,6 triệu USD, tăng 143,9% so với cùng kỳ. * Tình hình nhập khẩu hàng hóa Tháng 12 năm 2025, nhập khẩu ước đạt 52,6 triệu USD, tăng 22,9% so với tháng trước, so cùng kỳ tăng 2,3% (cùng kỳ đạt 51,4 triệu USD). Cả năm 2025, nhập khẩu ước đạt 535 triệu USD, tăng 14,5% so cùng kỳ, trong đó: kinh tế tư nhân ước đạt 366,6 triệu USD, tăng 10%, chiếm 68,5% kim ngạch nhập khẩu; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 168,4 triệu USD, tăng 25,8% so cùng kỳ, chiếm 31,5% kim ngạch nhập khẩu. - Nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu 12 tháng năm 2025: Cả năm 2025, nhập khẩu tăng chủ yếu ở nhóm hàng; Nguyên liệu dùng cho chế biến thủy sản ước đạt 110,7 triệu USD, tăng 24,4%; Vải các loại ước đạt 101,5 triệu USD, tăng 26,7%; Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày ước đạt 116 triệu USD, tăng 9%; Máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng ước đạt 63,4 triệu USD, tăng 26,9%... Bên cạnh các nhóm hàng tăng cũng có một số nhóm ngành hàng giảm như: Thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 34,6 triệu USD, giảm 2,4%; Gỗ và sản phẩm từ gỗ ước đạt 33 triệu USD, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước… - Thị trường nhập khẩu hàng hóa cả năm 2025: Năm 2025, nhập khẩu trực tiếp ước đạt 535 triệu USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ, nhập khẩu từ 5 châu lục, cụ thể: Châu Á ước đạt 432,3 triệu USD, tăng 18,3%, chiếm 80,8%; Châu Âu ước đạt 35,3 triệu USD, tăng 40,8%, chiếm 6,6%; Châu Mỹ ước đạt 46,3 triệu USD, giảm 18,2%, chiếm 8,7%; Châu Đại Dương ước đạt 8,1 triệu USD, giảm 20,6%, chiếm 1,5%; Châu Phi ước đạt 13 triệu USD, tăng 33%, chiếm 2,4% so với kim ngạch nhập khẩu trực tiếp. b) Xuất nhập khẩu hàng hóa tại Gia Lai Tây Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2025 ước đạt 105,6 triệu USD, giảm 5,8% so với tháng trước và giảm 50,9% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 2.110 triệu USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ, cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 1.210 triệu USD. - Kim ngạch xuất khẩu tháng 12 năm 2025 ước thực hiện 70,5 triệu USD, giảm 18,5% so với tháng trước và giảm 62,0% so với cùng kỳ. Tính chung 12 tháng năm 2025, xuất khẩu ước đạt 1.660 triệu USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ. - Kim ngạch nhập khẩu tháng 12 năm 2025 ước thực hiện 35,1 triệu USD, tăng 37,1% so với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ. Năm 2025, ước thực hiện 450 triệu USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ. Hình 23. Xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Tây (Năm 2025 so với cùng kỳ) 9. Các vấn đề xã hội 9.1. Dân số và lao động a) Dân số Dân số trung bình sơ bộ của tỉnh năm 2025 là 3.182,7 nghìn người, trong đó: nam có 1.587,1 nghìn người, chiếm 49,9%; nữ có 1.595,6 nghìn người, chiếm 50,1% trong tổng số dân. Quy mô dân số thành thị của tỉnh có 1.023 nghìn người, chiếm 32,1%; quy mô dân số nông thôn có 2.159,7 người, chiếm 67,9%.Hình 24. Dân số trung bình năm 2025 Về mức sinh và cơ cấu dân số: Khu vực phía Đông của tỉnh tiếp tục duy trì mức sinh thay thế, bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có từ 2,0-2,2 con, giai đoạn 2020-2025 đạt mức sinh bình quân 2,08 con/phụ nữ, trong đó năm 2025 ước đạt 2,02 con với quy mô dân số trên 1,5 triệu người. Tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh được kiểm soát, giảm xuống dưới mức 0,28 điểm %/năm, từ 110,3 năm 2020 xuống còn 108,9 năm 2025. Khu vực phía Tây của tỉnh đang tiến dần đến mức sinh thay thế vào năm 2030, thông qua việc triển khai đồng bộ các giải pháp giảm sinh; mức sinh bình quân giảm từ 2,47 con năm 2020 xuống 2,33 con năm 2024 và dự kiến 2,3 con năm 2025, với quy mô dân số trên 1,6 triệu người. Tỷ số giới tính khi sinh được khống chế và duy trì ở mức cân bằng tự nhiên (khoảng 106 bé trai/100 bé gái). Về nâng cao chất lượng dân số: Tăng cường triển khai các hoạt động nâng cao chất lượng dân số và đạt được một số kết quả tích cực: Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn: khu vực phía đông: 21,4%, khu vực phía tây: 70%; Tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc ít nhất 04 bệnh bẩm sinh phổ biến: khu vực phía đông: 36%, khu vực phía tây: 30%; Tỷ lệ trẻ sơ sinh được sàng lọc ít nhất 05 bệnh bẩm sinh phổ biến: khu vực phía đông: 20%, khu vực phía tây: 30%. b) Lực lượng lao động và thất nghiệp Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính quý IV năm 2025 là 1.837,1 nghìn người, tăng 2,3 nghìn người so với quý trước. Trong đó, khu vực thành thị 621,7 nghìn người, nông thôn 1.215,4 nghìn người, ở cả hai khu vực đều tăng tương ứng so với quý trước (1.215 người và 1.138 người). Lực lượng lao động nam 970 nghìn người, nữ 867,1 nghìn người, tăng so với quý trước (1.052 lao động nam và 1.301 lao động nữ). Ước tính năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 1.820,5 nghìn người, trong đó khu vực thành thị chiếm 34,1% và khu vực nông thôn chiếm 65,9%; Lực lượng lao động nam đạt 958,2 nghìn người, chiếm 52,6% và lao động nữ là 862,4 nghìn người, chiếm 47,4%. Trong năm 2025, toàn tỉnh tạo việc làm mới ước đạt 67.672/59.700 người, đạt tỷ lệ 113,4% so với kế hoạch; so với cùng kỳ năm 2024 (năm 2024, tổng số liệu tạo việc làm mới của cả tỉnh Gia Lai cũ và Bình Định cũ là 67.354 người) đạt tỷ lệ 100,47%. Tỉnh ban hành Quyết định số 04/2025/QĐ-UBND ngày 08/01/2025 quy định mức hỗ trợ bằng hình thức đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người có đất thu hồi là đất nông nghiệp, đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh Gia Lai và Quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch tín dụng năm 2025, nguồn vốn bổ sung trích từ tiền lãi cho vay Quỹ quốc gia về việc làm do UBND tỉnh quản lý. Kết quả trong năm 2025, toàn tỉnh tạo việc làm mới ước đạt 67.672 người, trong đó nguồn vốn cho vay tạo việc làm, duy trì mở rộng việc làm cho 25.636 dự án với số tiền cho vay là 1.545.609 triệu đồng, góp phần giải quyết việc làm cho 28.496 người. c) Lao động có việc làm Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ước tính quý IV năm 2025 là 1.816,9 nghìn người, tăng 6 nghìn người so với quý trước. Trong đó, khu vực thành thị 609,7 nghìn người, nông thôn 1.207,2 nghìn người, ở cả hai khu vực đều tăng tương ứng so với quý trước (1.300 người và 4.725người). Lao động nam 958,8 nghìn người, nữ 858,1 nghìn người, tăng so với quý trước (1.530 lao động nam và 4.495 lao động nữ). Tính chung năm 2025, lao động 15 tuổi trở lên có việc làm đạt 1.800,7 nghìn người, trong đó: Số lao động có việc làm trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 25,2%, tương đương với 454,1 nghìn người; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 22,2%, tương đương với 399,9 nghìn người; lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 52,6%, tương đương với 946,8 nghìn người. 9.2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội a) Đời sống dân cư Trong quý IV và năm 2025 tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, phục hồi và phát triển. Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn thách thức, nhất là những biến động phức tạp của giá cả, thị trường đã tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các loại hình kinh tế khác. Song, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã triển khai quyết liệt, đồng bộ và có hiệu quả các Nghị quyết của Trung ương, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, kích cầu du lịch, hỗ trợ chính sách, giải pháp cho vay, tạo việc làm,…góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống Nhân dân và hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng khó khăn, giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh. b) Công tác an sinh xã hội Công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách tiếp tục được thực hiện. Nhân các dịp Lễ, Tết, các ngành, các cấp, các địa phương trong tỉnh đều tổ chức tặng quà cho các đối tượng có công với cách mạng; tiến hành việc tu sửa, trang trí và tổ chức lễ viếng các Nghĩa trang, Đài tưởng niệm liệt sỹ. Cơ quan, đơn vị nhận phụng dưỡng các bà Mẹ Việt Nam Anh hùng đều tổ chức thăm viếng, tặng quà các Mẹ Việt Nam Anh hùng. Tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh trong quý IV năm 2025 như sau: - Hỗ trợ người có công và nhân thân của người có công với cách mạng trong quí IV năm 2025 là: 345.117 triệu đồng, tăng 97,9% so với quý trước, giảm 0,5% so quý cùng kỳ năm trước, giảm 17,5% so lũy kế cùng kỳ năm trước. - Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP trong quý IV/2025 là 344,5 tỷ đồng, tăng 6,0% so với quý trước, tăng 23,4% so quý cùng kỳ năm trước, tăng 8,5% so lũy kế cùng kỳ năm trước, - Trong năm 2025, ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh đã cấp 814.911 thẻ bảo hiểm y tế; trong đó: 59.563 người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ hàng tháng; 92.807 người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; 314.163 đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; 52.007 người dân đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; 1.686 người thuộc xã đảo; 294.685 trẻ em dưới 06 tuổi. 9.3. Giáo dục[1] Ngành giáo dục và đào tạo đã thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ chủ yếu và các nhóm giải pháp cơ bản trong thực hiện nhiệm vụ năm học 2024-2025. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục; bổ sung một số nội dung giáo dục thực hành trong chương trình giảng dạy. Đối với tài liệu giáo dục địa phương lựa chọn các nội dung/chủ đề trong tài liệu giáo dục địa phương được Bộ Giáo dục Đào tạo phê duyệt để tổ chức dạy học trong năm học 2025-2026, bảo đảm phù hợp với đặc điểm của đơn vị hành chính sau sắp xếp và đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông. Đẩy mạnh triển khai dạy học 02 buổi/ngày đối với THCS và THPT ở các nhà trường có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên theo kế hoạch triển khai bảo đảm nguyên tắc 06 rõ: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ sản phẩm. Tiếp tục tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; tham mưu UBND tỉnh ban hành chương trình, đề án, kế hoạch nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đề án theo Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ và các hướng dẫn thực hiện của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT hằng năm tăng đều; Kỳ thi THPT năm 2024-2025 là kỳ thi đầu tiên được tổ chức theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Tỉnh Gia Lai có 35.213 thí sinh dự thi theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Số thí sinh đậu tốt nghiệp là 34.974 em, đạt tỷ lệ 99,32%. Tại các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh Gia Lai đạt một số thành tích cao: Huy chương Bạc Châu Á Thái Bình Dương môn Tin học, huy chương Vàng Olympic Quốc tế năm 2025 môn Tin học; giải Ba chung kết “Đường lên đỉnh Olympia” năm 2024; 01 giải Nhì, 02 giải ba, 01 giải Tư tại Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm học 2024-2025; 01 giải Ba thi Học sinh - Sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp quốc gia năm học 2024-2025; Học sinh giỏi quốc gia toàn tỉnh có 01 giải Nhất, 17 giải Nhì, 38 giải Ba và 45 giải Khuyến khích. Tiến độ triển khai Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển giáo dục STEM giai đoạn 2025 – 2030: triển khai đúng tiến độ Kế hoạch Thực hiện Đề án phát triển giáo dục STEM trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2025 – 2030[2]. Đã hoàn thành khảo sát, thiết kế và khởi công xây dựng 02 phòng STEMLAB tại Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn và Trường THPT chuyên Chu Văn An, dự kiến hoàn thành ngày 15/12/2025. Đồng thời, đã hoàn thiện hồ sơ và khởi công xây dựng 01 phòng STEM-LAB tại Trường THPT chuyên Hùng Vương, dự kiến hoàn thành trước 31/12/2025. 9.4. Y tế[3] Trong năm 2025, ngành Y tế tỉnh Gia Lai chịu tác động lớn của thiên tai, đặc biệt là cơn bão số 13 (Kalmaegi) và đợt lũ xảy ra trong các ngày 18-19/11/2025 trên địa bàn phía Đông và một phần phía Tây của tỉnh. Trước diễn biến phức tạp của thiên tai, Sở Y tế đã chủ động triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Trung ương, Bộ Y tế, Tỉnh ủy và UBND tỉnh; thực hiện phương châm “4 tại chỗ”, tổ chức kiểm tra, rà soát phương án ứng phó tại các đơn vị y tế trọng điểm; đảm bảo trực 24/24 giờ, duy trì đầy đủ cơ số thuốc, hóa chất, vật tư, trang thiết bị y tế và phương tiện cấp cứu. Trong và sau bão, toàn bộ hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh đã đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người bệnh và nhân viên y tế; hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, đặc biệt là công tác cấp cứu và điều trị nội trú không bị gián đoạn. Ngành Y tế đã triển khai quyết liệt công tác vệ sinh môi trường, xử lý nguồn nước sinh hoạt, phòng chống dịch bệnh sau lũ; cử các đội cơ động hỗ trợ các địa phương bị ảnh hưởng nặng. Tăng cường hoàn thiện mạng lưới cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành Y tế; xây dựng các nền tảng số trong quản lý, chăm sóc sức khỏe người dân. Triển khai các hoạt động phòng, chống các loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như sốt xuất huyết, sốt rét, tay chân miệng,…các ổ dịch và trường hợp mắc được phát hiện sớm, xử trí kịp thời, không để lây lan trên diện rộng. Công tác giám sát, phát hiện sớm và xử lý ổ dịch được duy trì thường xuyên. Đối với bệnh Sốt xuất huyết Dengue, ngành Y tế đã tổ chức các đợt diệt lăng quăng, bọ gậy và phun hóa chất tại các khu vực có nguy cơ. Kết quả, tính đến ngày 14/12/2025: số ca mắc Sốt xuất huyết ghi nhận 4.466 ca, giảm 2.377 ca so với cùng kỳ năm 2024 (6.843 ca), số ổ dịch cũng được kiểm soát hiệu quả, giảm từ 1.617 ổ dịch trong cùng kỳ năm 2024 xuống còn 460 ổ dịch; Bệnh Tay chân miệng ghi nhận 776 ca, ở mức tương đương cùng kỳ. Đối với các bệnh truyền nhiễm khác, hệ thống giám sát đã hoạt động ổn định. Tổng số lượt khám chữa bệnh năm 2025 tại các cơ sở điều trị trực thuộc Sở Y tế: 3.090.933 lượt người, tăng 229.853 lượt so với cùng kỳ năm 2024. Ước chi phí cho khám bệnh, chữa bệnh đối với người tham gia BHYT hơn 3.000 tỷ đồng. * Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm Việc tiếp nhận hồ sơ và thủ tục hành chính về an toàn thực phẩm tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh: đã thực hiện dịch vụ công trực tuyến cho 12/12 thủ tục hành chính thuộc phạm vi giải quyết, trong đó 5/12 thủ tục thực hiện toàn trình. Từ đầu năm đến nay, đã tiếp nhận và trả kết quả cho 188 hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, 07 bản đăng ký công bố sản phẩm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, 01 giấy Chứng nhận y tế, 01 Giấy chứng nhận lưu hành tự do, bảo đảm 100% hồ sơ, thủ tục hành chính được cấp trả đúng thời gian quy định; tiếp nhận 551 bản tự công bố sản phẩm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Số cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống hiện quản lý thuộc ngành Y tế quản lý: 13.302 cơ sở (tuyến tỉnh 2.691 cơ sở, tuyến xã/phường 10.611 cơ sở). Ngành y tế thường xuyên giám sát các mối nguy ô nhiễm thực phẩm có nguy cơ cao tại các cơ sở dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố trên địa bàn tỉnh; mối nguy ô nhiễm thường xuyên; giám sát an toàn thực phẩm tại các cơ sở thực phẩm và tại các hội nghị, lễ hội, sự kiện. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn ghi nhận 03 vụ ngộ độc thực phẩm với 160 người mắc, không có trường hợp tử vong (trong đó có 1 vụ với hơn 30 người mắc). 9.5. Hoạt động văn hóa, thể thao[4] - Về văn hóa: Ngay từ đầu năm 2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kịp thời tham mưu, ban hành nhiều chương trình, kế hoạch theo các nhiệm vụ trọng tâm của UBND tỉnh giao nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch. Năm 2025, Sở đã tổ chức thành công các hoạt động, sự kiện, lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch. Về phát triển sản phẩm du lịch mới: nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch ở các địa phương, từ đầu năm 2025 đến nay đã phát triển 07 sản phẩm du lịch mới. Trong năm 2026, dự kiến sẽ phát triển thêm 14 sản phẩm du lịch mới. Đến nay, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng 03 đề án: Đề án phát triển thể thao thành tích cao tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045; Đề án phát triển du lịch tỉnh Gia Lai giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2045; Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không gian văn hoá cồng chiêng tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030. - Về thể dục thể thao: Trong năm 2025, có 04 HLV và 34 VĐV được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia (02 HLV và 19 VĐV ở cấp độ trẻ). Tính đến ngày 01/12/2025, các đội tuyển thể thao thành tích cao của tỉnh tham gia thi đấu 121 giải thể thao khu vực, Quốc gia và Quốc tế. Tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được đảm bảo, không phát sinh các vấn đề nổi cộm về môi trường ở địa phương. 9.6. Tai nạn giao thông Trong tháng 12/2025 (từ ngày 15/11/2025 đến ngày 14/12/2025) trên địa bàn tỉnh xảy ra 65 vụ tai nạn giao thông, giảm 11% (-8 vụ) so với tháng trước và giảm 28,6% (-26 vụ) so với cùng kỳ năm trước; làm 41 người chết, giảm 14,6% (-7 người) so với tháng trước và giảm 2,4% (-1 người) so với cùng kỳ năm trước; làm 42 người bị thương, giảm 17,6% (-9 người) so với tháng trước và giảm 41,7% (-30 người) so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 698 vụ tai nạn giao thông, giảm 29,1% (-287 vụ), làm 501 người chết, giảm 5,1% (-27 người) và 439 người bị thương, giảm 37,6% (-265 người) so với cùng kỳ. Bình quân 1 tháng trong 12 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, làm 42 người chết và 37 người bị thương. Tháng 12/2025 tổng số phương tiện đăng ký mới: 1.112 ô tô, 6.326 mô tô, nâng tổng số phương tiện đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 2.892.763 phương tiện, trong đó 196.431 ô tô, 2.685.553 mô tô, 7.024 xe máy điện và 3.755 phương tiện khác. Trong tháng 12/2025, lực lượng cảnh sát giao thông đã lập biên bản 6.402 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, phạt tiền hơn 11,7 tỷ đồng, tạm giữ 18 ô tô, 594 mô tô, 11 phương tiện khác; 3.246 giấy tờ phục vụ công tác xử lý; tước GPLX: 152 trường hợp, trừ điểm GPLX: 906 trường hợp. 9.7. Vi phạm môi trường Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ vi phạm môi trường, giảm 69,6% (-16 vụ) so với tháng trước, giảm 12,5% so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 01 vụ, giảm 91,7% (-11 vụ) so với tháng trước, giảm 87,5% so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 310 triệu đồng, giảm 62,2% (-51 triệu đồng) so với tháng trước, gấp hơn 10 lần (+281 triệu đồng) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, đã phát hiện 178 vụ vi phạm môi trường, giảm 34,8% (-95 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 125 vụ, giảm 54,2% (-148 vụ) so cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 2.259,6 triệu đồng, tăng 70,1% (+931 triệu đồng). 9.8. Tác động do thiên tai Trong tháng 12/2025, trên địa bàn tỉnh không phát sinh vụ thiên tai. Năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 69 vụ thiên tai. Trong đó, 03 vụ gió mạnh trên biển; 21 vụ mưa lớn, lũ, ngập lụt; 23 vụ lốc sét, mưa đá. - Thiệt hại về người: 7 người chết; 04 người bị mất tích và 14 người bị thương. - Thiệt hại về nhà: 1.191 ngôi nhà bị sập, bị cuốn trôi hoàn toàn, 134.597 ngôi nhà bị hư hại. - Thiệt hại về nông nghiệp: 4.188 ha lúa bị hư, phải gieo sạ lại; 15.112 ha hoa màu bị hư hỏng, 4.893 con gia súc bị chết, bị cuốn trôi và 391.165 con gia cầm bị chết vì nước lũ. Tổng giá trị thiệt hại ước tính là 11.658,0 tỷ đồng. Để kịp thời hỗ trợ Nhân dân bị thiệt hại do bão lũ, Chính phủ và các tỉnh bạn đã hỗ trợ 530 tỷ đồng và 3.000 tấn gạo cho các địa phương bị thiệt hại. Đánh giá chung năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai vẫn chịu ảnh hưởng của tác động từ biến động của kinh tế thế giới. Tuy nhiên, nhờ vào việc thực hiện có hiệu quả các chính sách kinh tế - xã hội của Trung ương và địa phương, đồng thời tỉnh Gia Lai cũng có những giải pháp kịp thời khắc phục những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, kinh tế của tỉnh tiếp tục có sự tăng trưởng đáng ghi nhận như: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá so sánh 2010 ước năm 2025 tăng 7,2%; GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 85,05 triệu đồng/người, tăng 12,4% (+9,4 triệu đồng/người) so với cùng kỳ; Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2025 ước tính đạt 149,59 triệu đồng/lao động, tăng 16,47 triệu đồng/người so với năm 2024... 10. Đề xuất giải pháp Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 nên có ý nghĩa rất quan trọng. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trên, trong năm 2026, tỉnh Gia Lai cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau: - Một là, phát triển nông nghiệp nhanh, bền vững, hiệu quả, trách nhiệm theo hướng “Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Phát triển sản xuất nông lâm thủy sản hàng hóa tích hợp đa giá trị, dựa trên lợi thế địa phương, theo hướng hiện đại có năng suất, chất lượng, hiệu quả, bền vững và sức cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, an ninh dinh dưỡng. Nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống, vai trò và vị thế của người tham gia sản xuất nông nghiệp; tạo việc làm phi nông nghiệp để phát triển sinh kế đa dạng, giảm nghèo bền vững cho người dân nông thôn. Phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh. - Hai là, chủ động nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; kịp thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để doanh nghiệp bảo đảm an toàn hoạt động sản xuất, kinh doanh. - Ba là, phát triển ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, quy mô lớn, có sự bức phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Ngành chế biến, chế tạo trở thành trụ đỡ của nền kinh tế; công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo trở thành một trong những lĩnh vực đột phá, góp phần đưa tỉnh Gia Lai trở thành trung tâm công nghiệp năng lượng tái tạo, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp số của vùng. Chú trọng thu hút đầu tư phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch như điện gió ven bờ, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, điện sinh khối, điện rác và nguồn năng lượng mới (hydrogen/amoniac xanh…). Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp; nâng cao tỷ lệ lấp đầy trong các khu kinh tế, khu công nghiệp hiện hữu, nhất là Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh, Khu công nghiệp - Đô thị và Dịch vụ Becamex - VSIP Bình Định. Đôn đốc, triển khai đầu tư một số khu công nghiệp trọng điểm như: Phù Mỹ, Hoài Mỹ, Cát Trinh, Bình Nghi, Nam Pleiku 2, Đak Đoa… - Bốn là, tiếp tục triển khai các biện pháp thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch; thúc đẩy hoạt động xuất khẩu; phát triển thị trường trong nước, để tiêu thụ hàng hóa, nông sản cho người dân. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm mở rộng phát triển thị trường cho các cơ sở, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; kết nối thị trường tìm đầu ra cho các mặt hàng nông sản của tỉnh thông qua các chương trình xúc tiến thương mại của tỉnh, xúc tiến thương mại quốc gia. Duy trì và phát huy hiệu quả sàn giao dịch thương mại điện tử của tỉnh, thúc đẩy phát triển loại hình thương mại điện tử; Đồng thời đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại nội địa và khuyến khích tiêu dùng nội địa thông qua Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. - Năm là, phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn dựa trên lợi thế biển, sinh thái núi rừng, di sản văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Chămpa; đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng; xây dựng các tuyến du lịch kết nối Đông - Tây, tạo chuỗi dịch vụ du lịch khép kín; xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với hệ thống hạ tầng, dịch vụ hiện đại, chất lượng cao. Tăng cường hợp tác phát triển du lịch với các địa phương trong và ngoài nước, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng các loại hình và sản phẩm du lịch. Tập trung triển khai các nội dung ký kết với các Hãng hàng không và các doanh nghiệp du lịch đã ký kết. Đôn đốc các chủ đầu tư, đơn vị tư vấn, giám sát đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm hoàn thành các khu du lịch nghỉ dưỡng, khách sạn cao cấp trên địa bàn tỉnh đi vào hoạt động. Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động các ngành dịch vụ bưu chính - viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải... để phục vụ tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. - Sáu là, tập trung thu hút đầu tư, nhất là dự án có quy mô lớn, công nghệ cao trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, công nghiệp công nghệ,... Chú trọng giải quyết vướng mắc, nhất là về cơ chế, chính sách ưu đãi, thủ tục đất đai, xây dựng... để đẩy nhanh triển khai dự án; theo dõi, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm. Triển khai quyết liệt các dự án, công trình trọng điểm, như: Đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng hàng không Phù Cát; đường bộ cao tốc Quy Nhơn – Pleiku; Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đi qua tỉnh; các công trình, dự án trọng điểm khác như Đường Nguyễn Văn Linh, các dự án năng lượng tái tạo, Khu công nghiệp Phù Mỹ, các khu, cụm công nghiệp;... - Bảy là, thực hiện tốt công tác phòng chống dịch, y tế dự phòng, dân số, vệ sinh an toàn thực phẩm; bảo đảm cung ứng đủ và kịp thời thuốc, hóa chất, vật tư y tế,… phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh. Tăng cường chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, phát triển y tế chuyên sâu đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ của người dân. Tiếp tục kiện toàn tổ chức mạng lưới y tế theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế./. [1] Báo cáo số 2484/BC-SGDĐT ngày 06 tháng 11 năm 2025, Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026.[2] Phê duyệt theo Quyết định số 933/QĐ-UBND ngày 29/7/2025 của UBND tỉnh Gia Lai;[3] Báo cáo số 376/BC-SYT ngày 23 tháng 12 năm 2025, Tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của ngành Y tế;[4] Báo cáo số 244/BC-SVHTTDL ngày 05 tháng 11 năm 2025, Tình hình triển khai các hoạt động xúc tiến du lịch, thu hút khách du lịch, giải pháp thúc đẩy du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch mới.
Báo cáo KT-XH tháng 11
- 09/12/2025 10:39
BÁO CÁOTình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia LaiTháng 11 và 11 tháng năm 2025 Mười một tháng năm 2025, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của các xung đột địa chính trị tại nhiều khu vực, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gây sức ép tăng chi phí vận chuyển, bảo hiểm hàng hải. Bên cạnh đó, việc Hoa Kỳ duy trì và mở rộng các biện pháp thuế quan đối với một số nhóm hàng nhập khẩu đã tạo ra sự dịch chuyển thương mại toàn cầu, gia tăng rủi ro cạnh tranh và tác động mạnh đến thị trường xuất nhập khẩu của nhiều nền kinh tế. Nền kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự kiến; lạm phát vẫn ở mức cao tại nhiều quốc gia buộc các ngân hàng trung ương tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thắt chặt, gây áp lực lên đầu tư, tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Vào đầu tháng 11 năm 2025, cơn bão Kalmaegi (bão số 13) và mưa lũ đã đổ bộ vào tỉnh, gây thiệt hại nặng nề về cơ sở hạ tầng và nhà cửa của Nhân dân; làm gián đoạn sản xuất ở một số nơi bị mất điện và ngập lụt; hư hỏng một số tàu thuyền và diện tích nuôi trồng thủy sản…Tuy nhiên, toàn tỉnh đã khẩn trương khắc phục hậu quả do cơn bão, lũ gây ra, sớm đưa cuộc sống của người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trở lại bình thường. Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11, 11 tháng năm 2025 với những kết quả như sau: - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11/2025 giảm 5,34% so với tháng trước và tăng 4,67% so với cùng kỳ; luỹ kế 11 tháng năm 2025 tăng 9,32% so với cùng kỳ; - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2025 ước đạt 16.215,1 tỷ đồng, giảm 2,8% so với tháng trước, và tăng 14,5% so với cùng kỳ; luỹ kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 181.891 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ;Mười một - Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2025 ước đạt 4.113,8 triệu USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 3.200,2 triệu USD, tăng 21,0%; nhập khẩu ước đạt 913,6 triệu USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 2.286,6 triệu USD. - Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 11 năm 2025 ước đạt 1.060 nghìn TTQ, giảm 3,5% so với tháng trước, giảm 4,0% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, ước đạt 12.595,3 nghìn TTQ, giảm 5,0% so với cùng kỳ năm trước; - Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng 1,13% so với tháng trước, tăng 5,22% so với cùng kỳ và tăng 4,64% so với năm gốc 2024; Bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 4,03% so với cùng kỳ. - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 11 năm 2025 của tỉnh Gia Lai chịu ảnh hưởng của cơn bão số 13 và đợt ngập lụt cục bộ tại một số xã, phường tại khu vực phía Đông của tỉnh Gia Lai đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất một số diện tích rau, màu...; khu vực phía Tây ảnh hưởng nhẹ nên tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn duy trì ổn định. Tình hình dịch bệnh được kiểm soát, các dự án chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao ngày càng được mở rộng, đa dạng giống nuôi, công tác tái đàn được quan tâm đầu tư. Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào trồng rừng, khai thác gỗ theo kế hoạch. 1.1. Nông nghiệp Đối với lúa vụ Mùa, diện tích gieo trồng tính đến ngày 21/11/2025 đạt 53.756,9 ha, giảm 0,4% (-198 ha) so với cùng kỳ. Diện tích thu hoạch đạt 49.292,9 ha, giảm 0,3% (-141,7 ha) so với cùng kỳ. Tính đến ngày 21/11/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng các loại cây chủ lực, như sau: Cây ngô 46.708,2 ha, tăng 1% (+439,8 ha) so với cùng kỳ; cây lạc 14.088,2 ha, giảm 0,9% (-131,4 ha) so với cùng kỳ; rau các loại 49.594,8 ha, tăng 1,6% (+793,9 ha) so với cùng kỳ; đậu các loại 22.781,1 ha, giảm 1,5% (-358 ha) so với cùng kỳ. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số loại cây(Đến ngày 21/11/2025 so với cùng kỳ) Tình hình chăn nuôi: Tính đến tháng 11/2025, đàn trâu của tỉnh ước đạt 26.762 con, giảm 4,0% (-1.124 con) so với cùng kỳ. Đàn bò ước đạt 800.587 con, tăng 2,6% (+20.366 con) so với cùng kỳ; trong đó, bò sữa ước đạt 14.293 con, tăng 3,3% (+461 con) so với cùng kỳ. Đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) ước đạt 1.674.699 con, tăng 13,9% (+204.131 con) so với cùng kỳ. Đàn gia cầm ước đạt 18.388,4 nghìn con, tăng 8,0% (+1.354,3 nghìn con) so với cùng kỳ; trong đó, đàn gà có 16.021,8 nghìn con, tăng 8,1% (+1.199,5 nghìn con) so với cùng kỳ.Hình 2. Số lượng đầu con gia súc, gia cầm(Tháng 11 năm 2025 so với cùng kỳ) 1.1. Lâm nghiệp Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng 11 năm 2025 tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả rừng trồng bằng biện pháp thâm canh rừng trồng sản xuất, sử dụng cây giống nuôi cấy mô, cây giống lâm nghiệp mới, chất lượng cao phục vụ trồng rừng cây gỗ lớn. Trong tháng 11/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung được 2.952,6 ha, giảm 29,1% (-1.210,6 ha) so với cùng kỳ, lũy kế từ đầu năm trồng được 19.262,9 ha, giảm 14,1% (-3.154,9 ha) so với cùng kỳ. Ước tính tháng 11/2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 260.424 m³, tăng 16,9% (+37.701 m³) so với cùng kỳ, lũy kế từ đầu năm sản lượng gỗ ước đạt 1.960.939,4 m³, tăng 5% (+94.139,4 m³) so với cùng kỳ, chủ yếu là các loại gỗ nguyên liệu dùng cho sản xuất và nhu cầu thiết yếu của hộ gia đình. Về tình hình cháy rừng: Trong tháng 11/2025 trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ việc. Lũy kế từ năm đến nay, xảy ra 02 vụ cháy rừng trồng, giảm 50% (-2 vụ) so với cùng kỳ, diện tích rừng bị thiệt hại là 6,2 ha, giảm 97,5% (-246 ha) so với cùng kỳ. Về vi phạm phá rừng: Trong tháng 11/2025, phát hiện và lập biên bản 6 vụ vi phạm, diện tích thiệt hại 18,9 ha, giảm 10,0% (-2,1 ha) so với cùng kỳ. Tính từ đầu năm đến nay, phát hiện và lập biên bản 56 vụ vi phạm phá rừng, diện tích thiệt hại là 19,9 ha; giảm 67,3% (-40,9 ha) so với cùng kỳ. Sau bão13, một số diện tích keo chưa đến kỳ thu hoạch bị gãy, ngã, người dân phải thu hoạch sớm.Hình 3. Tình hình lâm nghiệp(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) 1.1. Thủy sản Hoạt động nuôi trồng thủy sản đang vào cuối vụ, diện tích tôm nuôi nước lợ phần lớn đã thu hoạch. Một số diện tích nuôi tôm nước lợ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất; người nuôi áp dụng các biện pháp quản lý môi trường để phòng bệnh trong thời điểm thời tiết biến động. Trong tháng tăng cường và hướng dẫn các hộ nuôi các biện pháp chủ động phòng chống dịch bệnh, định kỳ kiểm tra, giám sát các cơ sở nuôi để tránh dịch bệnh lây lan. Hướng dẫn các hộ nuôi chọn các loại giống chất lượng, ít nhiễm bệnh; ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ cao trong quá trình nuôi đạt năng suất cao, giảm thiểu các chi phí nuôi. Nuôi tôm hùm thương phẩm, mực lá có giá trị kinh tế cao được chú trọng quan tâm. Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 11/2025 ước đạt 790,6 tấn, giảm 6,5 % (-54,8 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng sản lượng ước đạt 18.053,6 tấn, tăng 0,2 % (+40,8 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng thủy sản giảm do ảnh hưởng của bão, lũ trong tháng gây nên. Trong đó sản lượng cá ước đạt 634,4 tấn, giảm 4,7 % (-31,1 tấn), cộng dồn 11 tháng sản lượng ước đạt 8.192,4 tấn, tăng 1,4% (+114,4 tấn); sản lượng tôm ước đạt 89,2 tấn, giảm 7,8% (-7,5 tấn), cộng dồn 11 tháng sản lượng ước đạt 8.267,1 tấn, giảm 4,2% (-359,9 tấn). Sản lượng thủy sản khác ước đạt 67 tấn, giảm 19,5 % (-16,2 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng ước đạt 1.594,1 tấn, tăng 21,9 % (+286,3 tấn) so với cùng kỳ; nguyên nhân tăng cao do nhiều hộ chuyển sang nuôi ốc hương và hàu trên địa bàn các xã. Sản lượng khai thác thủy sản biển tháng 11/2025 ước đạt 20.115 tấn, giảm 1,1% (-233 tấn) so với cùng kỳ; cộng dồn 11 tháng sản lượng ước đạt 264.892,5 tấn, tăng 2,5% (+6.453,8 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cá các loại tháng 11 ước đạt 18.542,4 tấn, giảm 0,8% (-156,1 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng sản lượng cá ước đạt 239.944,8 tấn, tăng 2,3% (+5.314,6 tấn) so với cùng kỳ; tôm tháng 11 ước đạt 98,1 tấn, giảm 3% (-3 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng sản lượng tôm ước đạt 1.310,2 tấn, tăng 17,8% (+196,9 tấn) so với cùng kỳ và thủy sản khác ước đạt 1.918,4 tấn, giảm 3,1% (-62 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng sản lượng thủy sản khác ước đạt 28.066,6 tấn, tăng 3,6% (+985,6 tấn) so với cùng kỳ.Hình 4. Sản lượng khai thác thủy sản biển chia theo loại con(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)1. Sản xuất công nghiệpTrong thời gian vừa qua, tỉnh Gia Lai đã tích cực triển khai nhiều giải pháp tạo bước chuyển mạnh mẽ trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Tỉnh tiếp tục tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; rà soát và hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án, tạo mọi điều kiện thuận lợi đối với các dự án trọng điểm đảm bảo tiến độ theo kế hoạch. Với những nỗ lực đó, kết quả ghi nhận trong 11 tháng năm 2025 chỉ số IIP tăng 9,32% so với cùng kỳ, phản ánh sự tăng trưởng ổn định và phục hồi của ngành công nghiệp địa phương. 2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Trong tháng 11/2025, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh (chủ yếu các vùng ven biển của phía Đông tỉnh) chịu ảnh hưởng tiêu cực của bão số 13 và các đợt mưa lũ diễn ra trong những ngày gần đây, làm ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất và lưu thông hàng hóa của nhiều doanh nghiệp. So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 năm 2025 giảm 5,34%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,49%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,7%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 13,65%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 0,08%. So với cùng kỳ, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 năm 2024 tăng 4,67%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,18%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 37,2%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,55%. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là việc Hoa Kỳ áp dụng chính sách thuế quan mới đối với một số nhóm hàng, cùng với tác động của bão số 13 và mưa lũ trên địa bàn tỉnh đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất công nghiệp của Gia Lai trong thời gian qua. Tuy nhiên, ngành công nghiệp của tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực với chỉ số sản xuất 11 tháng năm 2025 tăng 9,32% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện là động lực chính đóng góp vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành.Hình 5. Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,52%, kéo giảm tốc độ tăng trưởng chung. Nguyên nhân do các mỏ khoáng sản titan đang dần cạn kiệt, doanh nghiệp hết giấy phép khai thác đã chuyển sang các ngành nghề kinh doanh khác. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,47%. Trong đó, nhóm ngành tăng cao như: Chế biến thực phẩm; Sản xuất trang phục; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác. Tình hình sản xuất ở một số ngành chủ yếu của tỉnh: - Ngành chế biến thực phẩm tăng 8,67% do một số sản phẩm tăng như: Thức ăn gia súc tăng 7,76%; thức ăn gia cầm tăng 12,21%; tôm đông lạnh tăng 161,64%; Sản phẩm sữa và kem tăng 11,14%. Ngành mía đường Gia Lai đang phục hồi mạnh nhờ Chính phủ và Bộ Công Thương duy trì biện pháp phòng vệ thương mại, giữ giá đường ổn định, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng đầu tư, góp phần thúc đẩy sản lượng đường RS tăng cao 19,95% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm sản lượng như: Tinh bột sắn giảm 5,35% do giá sắn tươi giảm, người dân chuyển đổi cây trồng sang trồng mía, nguồn nguyên liệu đầu vào giảm nên lượng sản xuất giảm; sản lượng đường RE giảm 3,61%; nước cam, chanh, quít, bưởi tươi giảm 14,05% do giá chanh dây không ổn định. - Ngành sản xuất trang phục tăng 12,91%, phản ánh sự ổn định và phát triển của ngành may mặc trong tỉnh. Các doanh nghiệp chủ yếu của ngành đã ổn định sản xuất và nhận được đơn hàng đến hết năm 2025; đồng thời, cùng với các dự án đi vào hoạt động năm 2025 đóng góp giá trị sản xuất mới và xuất khẩu tăng, góp phần tăng chỉ số sản xuất ngành may mặc. - Ngành sản xuất thuốc tăng nhẹ 0,58% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do Công ty Kabi đang triển khai bổ sung thêm một dây chuyền sản xuất mới nhằm nâng công suất hoạt động. Tuy nhiên, để đảm bảo độ vô khuẩn tuyệt đối của sản phẩm dung dịch truyền, trong quá trình lắp đặt dây chuyền mới, các dây chuyền hiện tại cũng phải tạm ngừng sản xuất, dẫn đến sản lượng chung của nhà máy và toàn ngành tăng chậm. Ngoài ra, do ảnh hưởng bão, lũ, nên tiến độ lắp đặt máy móc bị kéo dài so với kế hoạch, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. - Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 31,87%, đóng góp chính từ sản phẩm gạch ốp lát tăng rất mạnh (+201,96%). - Ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 0,32%, đà tăng trưởng của ngành đang có dấu hiệu chững lại do nhu cầu tiêu thụ suy giảm, chịu ảnh hưởng từ những biến động bất ổn của thị trường cả trong nước và quốc tế, nhất là đối với sản phẩm tấm lợp kim loại (-17,99%). - Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 0,71% so với với cùng kỳ. Nguyên nhân do ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nhiều khó khăn do ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách thuế thương mại của Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam, khiến đơn hàng xuất khẩu giảm, áp lực cạnh tranh tăng và doanh thu của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong ngành còn chịu tác động từ thiên tai, bão lũ trong tháng 11/2025, gây ngập lụt một số nhà xưởng, hư hỏng nguyên liệu và gián đoạn quá trình sản xuất, dẫn đến năng suất lao động giảm và tiến độ giao hàng bị chậm trễ. Ngoài ra, một số ngành trong lĩnh vực chế biến, chế tạo có mức giảm so với cùng kỳ, đáng chú ý là ngành sản xuất hóa chất giảm 27,92%, chủ yếu do Công ty XNK Thành Hưng chuyển dần hoạt động từ sản xuất sang kinh doanh, mua bán phân bón, làm sản lượng sản xuất toàn ngành sụt giảm. Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 9,15%; Dệt giảm 7,11%; In ấn giảm 2,63%. Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 19,57%. Sản lượng, ngành điện tăng trưởng mạnh, chủ yếu nhờ vào sản lượng thủy điện, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng ngành, tăng 30,44% so với cùng kỳ. Ngoài ra, mùa mưa kéo dài, lượng nước dồi dào giúp các hồ chứa tích trữ tốt, nâng cao hiệu suất phát điện. Điện gió cũng ghi nhận mức tăng 8,6% nhờ điều kiện gió thuận lợi. Riêng, điện mặt trời giảm nhẹ 1,55% do thời tiết và sự cắt giảm huy động điện mặt trời trong một số thời điểm. Tổng thể, ngành điện tiếp tục duy trì vai trò chủ lực trong phát triển công nghiệp và đảm bảo nguồn năng lượng trên địa bàn. Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,91%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 3,43%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 34,62%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 14,47%, chủ yếu tăng mạnh ngành thoát nước và xử lý nước thải, tăng 34,62% và hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu tăng 14,47%. 2.2. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động tháng 11/2025 của tỉnh giảm 0,36% so với tháng trước, do ảnh hưởng của bão, lũ, một số doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất để khắc phục hậu quả thiên tai. Trong đó, ngành Khai khoáng tăng 0,28%; Công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,4%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 0,11%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ổn định.Chỉ số sử dụng lao động tháng 11/2025 giảm 1,23% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành Khai khoáng giảm 0,55%; Công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,95%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 8,31%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,45%. Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ chỉ số sử dụng lao động tháng 11/2025 của khối doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 4,24%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 11,46%.1. Đầu tư Trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động, tỉnh Gia Lai tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược. Đồng thời, đây là năm đầu tiên tỉnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thay đổi căn bản phương thức phân cấp, giao vốn và tổ chức thực hiện đầu tư công. Để bảo đảm tính liên tục và phù hợp với mô hình mới, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1922/QĐ-UBND ngày 25/9/2025 về điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công năm 2025 tỉnh Gia Lai; ban hành Quyết định số 2231/QĐ-UBND ngày 15/10/2025 về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công năm 2025 cấp huyện vào kế hoạch đầu tư công năm 2025 của cấp xã. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2025 ước đạt 1.777,5 tỷ đồng, tăng 11,7% so với tháng trước và tăng 32,5% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 13.889,2 tỷ đồng, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm 2024, đạt 73,3% so kế hoạch năm, trong đó: - Vốn Ngân sách cấp tỉnh đạt 9.915,7 tỷ đồng, tăng 28,2%, đạt 71,9% so với kế hoạch năm; - Vốn Ngân sách cấp xã đạt 3.973,5 tỷ đồng, tăng 48,3%, đạt 77,1% so với kế hoạch năm.Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Nhìn chung, nguồn vốn do địa phương quản lý ước thực hiện 11 tháng năm 2025 đạt mức giải ngân khá, trong đó vốn phân cấp cho xã, phường tiếp tục là điểm sáng của năm 2025. Tiến độ thực hiện 11 tháng năm 2025 duy trì xu hướng tích cực nhờ sự chủ động của các chủ đầu tư trong tổ chức thi công và hoàn thiện thủ tục thanh toán. Tình hình thực hiện một số công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh Trong 11 tháng năm 2025, nhiều dự án trọng điểm tiếp tục được triển khai, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. - Lĩnh vực giao thông: Đường ven biển đoạn Cát Tiến – Diêm Vân, đường ven biển (ĐT.639) đoạn từ Quốc lộ 1D đến Quốc lộ 19 mới, đường Mang Yang – Ia Pa, đường tỉnh 669, đường hành lang kinh tế phía Đông (đường tránh Quốc lộ 19) và đường từ phường Pleiku đi trung tâm xã Đak Đoa đang tổ chức thi công theo đúng kế hoạch được giao. Bên cạnh đó, các dự án đề xuất đầu tư năm 2025 gồm 07 dự án trọng điểm có tổng mức đầu tư lớn, mang tính kết nối vùng và phát triển hạ tầng chiến lược của tỉnh, cụ thể: Tuyến đường bộ cao tốc Quy Nhơn – Pleiku; Đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng hàng không Phù Cát; Tuyến đường kết nối từ cao tốc Bắc – Nam về KCN Phù Mỹ và bến cảng Phù Mỹ; Tuyến đường nối từ Quốc lộ 1 đến đường ven biển ĐT.639 kết nối cảng Đề Gi; Tuyến đường kết nối từ Khu đô thị Khoa học và Giáo dục Quy Hòa đến Khu đô thị Long Vân; Dự án Phát triển tích hợp thích ứng – tỉnh Bình Định (vốn vay WB); Cầu Thị Nại 2. - Lĩnh vực y tế – giáo dục: Khu xạ trị và trang thiết bị Bệnh viện Đa khoa tỉnh; Phát triển mạng lưới y tế cơ sở vùng khó khăn; Các trường học đạt chuẩn quốc gia năm 2025. - Đô thị – hạ tầng tái định cư: Các khu đô thị và tái định cư tiếp tục ghi nhận chuyển biến mạnh: Khu dân cư đường Nguyễn Văn Linh; Khu dân cư phía Bắc Nhà ở xã hội Nhơn Bình; Khu dân cư và tái định cư Vĩnh Hội. 4. Hoạt động Ngân hàng Tính đến cuối tháng 11/2025, tổng số dư huy động vốn của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai ước đạt 206.812 tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ và tăng 13,7% so với tháng 12 năm 2024. Tổng dư nợ cho vay tính đến 30/11/2025 ước đạt 247.212 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ và tăng 4,5% so với tháng 12 năm 2024. Ước đến 30/11/2025 nợ xấu trên địa bàn tỉnh chiếm 1,67% so với tổng dư nợ.Hình 7. Hoạt động ngân hàng(Đến 31/11/2025 so với cùng kỳ)5. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong tháng 11/2025, Gia Lai chịu ảnh hưởng của bão, lũ, ngập lụt cục bộ tại một số xã, phường trên địa bàn tỉnh (Tuy Phước Bắc, Tuy Phước Đông, Quy Nhơn Bắc, Quy Nhơn Đông, Ayun Pa, Krông Pa, Ia Pa, Phú Thiện, Chư Sê…). Mưa lớn kéo dài làm nhiều khu vực bị chia cắt, đường giao thông liên xã bị sạt lở. Một số vùng thấp trũng bị ngập sâu, nhiều hộ dân phải sơ tán. Lưu thông hàng hóa, vận tải hành khách và hoạt động du lịch bị ảnh hưởng trong một số ngày mưa bão. Tuy nhiên nhu cầu mua sắm, tích trữ lương thực có xu hướng tăng, do đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tỉnh Gia Lai tháng 11/2025 ước đạt 16.215,1 tỷ đồng, giảm 2,8% so với tháng trước do ảnh hưởng của bão lũ, nhưng tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 181.891 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ, trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 136.197,3 tỷ đồng, tăng 12,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 26.831,7 tỷ đồng, tăng 17,2%; du lịch lữ hành ước đạt 1.155,2 tỷ đồng, tăng 16,8%; dịch vụ khác ước đạt 17.706,8 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 12.886,1 tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước, và tăng mạnh 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động bán lẻ ở một số ngành hàng lương thực, thực phẩm, chăn mền… có xu hướng tăng lên sau bão, lũ để hỗ trợ hoạt động cứu trợ không chỉ tại Bình Định (cũ) mà còn cả ở tỉnh Phú Yên (cũ); các ngành hàng vật liệu xây dựng cũng có xu hướng tăng do nhu cầu sửa chữa nhà cửa sau bão, lũ. Hình 8. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hình 8. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ đạt 136.197,3 tỷ đồng, chiếm 74,9% trong doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, tăng 12,1% so với cùng kỳ. Như vậy, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và sản xuất phục hồi ổn định. Cơ cấu bán lẻ chuyển biến theo hướng hiện đại, phản ánh sức mua của thị trường nội địa ổn định và niềm tin tiêu dùng được củng cố. Các nhóm hàng tăng trưởng cao như: - Đá quý, kim loại và sản phẩm tháng 11/2025 ước đạt 270,5 tỷ đồng, tăng 6,9% so với tháng trước, tăng 43,9% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 2.402,6 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ, chủ yếu do diễn biến giá vàng thế giới tăng cao ảnh hưởng tới giá vàng trong nước trong thời gian tương đối dài; - Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tháng 11/2025 ước đạt 1.382,7 tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước, tăng 34,7% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 13.521,0 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu tiêu dùng máy phát điện, điện máy và sạc dự phòng tăng cao; - Hàng gỗ và vật liệu xây dựng tháng 11/2025 ước đạt 1.700,8 tỷ đồng, tăng 4,7% so với tháng trước, tăng 20,7% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 15.700,1 tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ; - Lương thực, thực phẩm tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm khoảng 40% tổng doanh thu bán lẻ, tháng 11/2025 ước đạt 5.135,9 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước, tăng 19,3% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 doanh thu ước đạt 56.756,5 tăng 13,0% so với cùng kỳ năm trước; - Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tháng 11/2025 ước đạt 245,5 tỷ đồng, tăng 3,8% so với tháng trước, tăng 12,6% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 2.428,1 tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nhu cầu dịch vụ sửa chữa, thay thế phụ tùng xe sau khắc phục do bị ảnh hưởng cơn bão số 13 và ngập lụt; - Hàng may mặc tháng 11/2025 ước đạt 609,2 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước, tăng 8,6% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 6.564,9 tỷ đồng, tăng 8,1%; - Xăng, dầu các loại tháng 11/2025 ước đạt 1.863,0 tỷ đồng, giảm 3,1% so với tháng trước nhưng tăng 14,5% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 21.185,0 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá năng lượng trong nước điều chỉnh giảm và nhu cầu vận chuyển, sản xuất bị ảnh hưởng trong thời gian bị bão, ngập lụt; - Vật phẩm văn hóa – giáo dục tháng 11/2025 ước đạt 106,9 tỷ đồng, giảm 0,6% so với tháng trước, tăng 6,9% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 1.184,0 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ. Hình 9. Doanh thu nhóm ngành bán lẻ hàng hóa(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Tháng 11/2025 tỉnh Gia Lai trực tiếp hứng chịu cơn bão 13, mưa lũ lụt; Thời tiết không thuận lợi cho du lịch nhất là du lịch biển đảo; do đó, hầu hết các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều giảm doanh thu so với tháng trước (tuy nhiên tháng 11 không nằm trong mùa cao điểm khách du lịch ở Gia Lai). Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 11/2025 ước đạt 1.787,2 tỷ đồng, giảm 19,1% so với tháng trước và giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 26.831,7 tỷ đồng, chiếm 14,8% trong doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, tăng 17,2% so với cùng kỳ. Cụ thể: - Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 11/2025 ước đạt 148,5 tỷ đồng, giảm 35,4% so với tháng trước và giảm 17,0% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 3.142,5 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 11/2025 ước đạt 1.638,7 tỷ đồng, giảm 17,3% so với tháng trước và tăng 1,2% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 23.689,2 tỷ đồng, tăng 17,5% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 11/2025 ước đạt 41,6 tỷ đồng, giảm 47,8% so với tháng trước và giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng đạt 1.155,2 tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 11/2025 ước đạt 1.500,2 tỷ đồng, giảm 7,7% so với tháng trước, nhưng tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 17.706,8 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ. Cụ thể tình hình một số ngành dịch vụ như: - Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản tháng 11/2025 ước đạt 351,4 tỷ đồng, giảm 21% so với tháng trước và giảm 6,6% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, doanh thu kinh doanh bất động sản đạt 5.204,3 tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 190,6 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 5,9% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, doanh thu dịch vụ hành chính và hỗ trợ ước đạt 2.059,1 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giáo dục đào tạo ước đạt 76,6 tỷ đồng, giảm 11,5% so với tháng trước, tăng 2,2% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 841,3 tỷ đồng, tăng 14,5% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ y tế ước đạt 186,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước, tăng 14,3% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, doanh thu dịch vụ y tế ước đạt 1.859,3 tỷ đồng, tăng 16,0% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 284,4 tỷ đồng, giảm 13,6% so với tháng trước và tăng 1,3% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 3.526,7 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 410,5 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước, tăng 15,7% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng, doanh thu dịch vụ khác đạt 4.216,1 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ.5.1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa[1] Mười một tháng năm 2025, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của các xung đột địa chính trị tại nhiều khu vực, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gây sức ép tăng chi phí vận chuyển, bảo hiểm hàng hải. Đối với Việt Nam, điều này gây áp lực lên doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, cà phê, gỗ, cao su - là các mặt hàng chủ lực của Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng. Nhìn chung, dù kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều biến động, song nhờ chính sách điều hành linh hoạt của Chính phủ, sự chủ động của doanh nghiệp, hoạt động thương mại - đầu tư của tỉnh Gia Lai vẫn được duy trì ổn định và tăng trưởng tích cực trong 11 tháng năm 2025. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Gia Lai tháng 11/2025 đạt 295 triệu USD, giảm 10,4% so với tháng trước và giảm 7,6% so với cùng kỳ; cụ thể, xuất khẩu ước đạt 210,2 triệu USD, giảm 9,8% so với tháng trước và giảm 11,6% so với cùng kỳ; nhập khẩu ước đạt 84,8 triệu USD, giảm 11,9% so với tháng trước, nhưng tăng 3,9% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Gia Lai tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng ấn tượng, với tổng kim ngạch ước đạt 4.113,8 triệu USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 3.200,2 triệu USD, tăng 21% và tăng 11,1% so với số kế hoạch đề ra (kế hoạch năm 2025 xuất khẩu ước 2.880 triệu USD). Nhập khẩu ước đạt 913,6 triệu USD, tăng 14,2% so cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 2.286,6 triệu USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ. Hình 10. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tỉnh Gia Lai(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) [1] Thống kê tỉnh Gia Lai thu thập thông tin, tổng hợp và báo cáo UBND tỉnh về hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông theo Quyết định số 2928/QĐ-UBND ngày 15/8/2024 của UBND tỉnh Bình Định. Đối với Gia Lai Tây, Thống kê tỉnh Gia Lai không thực hiện cuộc điều tra này, nên số liệu hàng hóa xuất nhập khẩu thu thập, tổng hợp từ báo cáo các Chi cục Hải quan khu vực.Cụ thể tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 11 và 11 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Gia Lai như sau: &*** Phía Gia Lai Đông Tháng 11 năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đối với Gia Lai Đông ước đạt 185,1 triệu USD, giảm 10,5% so với tháng trước, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đối với Gia Lai Đông ước đạt 2.111,7 triệu USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước. Hình 11. Xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Xuất khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông, tháng 11 năm 2025, xuất khẩu ước đạt 135,1 triệu USD, giảm 11,8% so tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 7% (cùng kỳ đạt 145,2 triệu USD). Mười một tháng năm 2025, xuất khẩu ước đạt 1.622,1 triệu USD, tăng 3,0%; trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 29,9 triệu USD, giảm 37,7%; kinh tế tư nhân ước đạt 1.319,7 triệu USD, tăng 5,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 272,5 triệu USD, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Gia Lai Đông bao gồm: Gỗ, sản phẩm gỗ, hàng dệt may, hàng thủy sản, sản phẩm từ chất dẻo. Ngoài ra, một số mặt hàng khác cũng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu như; gạo, sắn và các sản phẩm từ sắn… Mười một tháng năm 2025, các nhóm hàng xuất khẩu tăng/giảm so với cùng kỳ như: Nhóm thủy sản với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 137,8 triệu USD, tăng 13,7%; Sản phẩm gỗ ước đạt 438,3 triệu USD, tăng 9,4%; Hàng dệt may xuất khẩu ước đạt 352,2 triệu USD, tăng 13,1%... Ngược lại cũng có một số nhóm ngành hàng giảm, cụ thể: Nhóm hàng gỗ ước đạt 381,4 triệu USD, giảm 0,5%; Sản phẩm từ chất dẻo (sản phẩm chính là bàn ghế nhựa giả mây) ước đạt 171,2 triệu USD, giảm 9,6%; Sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 66,2 triệu USD, giảm 9,5%; Mặt hàng gạo xuất khẩu ước đạt 29,9 triệu USD, giảm 37,7% so với cùng kỳ. Hình 12. Sản phẩm xuất khẩu hàng hóa chủ yếu phía Gia Lai Đông (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Thị trường xuất khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2025 có tốc độ tăng trưởng tích cực, với các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc. Mười một tháng năm 2025, xuất khẩu trực tiếp ước đạt 1.620,4 triệu USD qua 5 Châu lục, cụ thể: - Châu Mỹ ước đạt 651,6 triệu USD (với 25 nước), tăng 10,1% so với cùng kỳ, chiếm 40,3% trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa trực tiếp của Gia Lai Đông; cụ thể, thị trường Mỹ ước đạt 604,8 triệu USD, tăng 12,1%; chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 37,3%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh; một số mặt hàng xuất khẩu qua thị trường Mỹ như: Sản phẩm gỗ ước đạt 232,8 triệu USD, tăng 15,4%; Hàng dệt, may ước đạt 219,4 triệu USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ; - Châu Á ước đạt 564,6 triệu USD, giảm 6,0% so với cùng kỳ, chiếm 34,8%, Châu Á chủ yếu xuất khẩu qua các thị trường như; Nhật Bản ước đạt 305 triệu USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ, kế đến là thị trường Trung Quốc ước đạt 149,1 triệu USD, giảm 30% so với cùng kỳ; thị trường Philippines ước đạt 30,4 triệu USD, giảm 38,4%, xuất khẩu qua thị trường này chủ yếu là mặt hàng gạo ước đạt 29,9 triệu USD, về trị giá giảm 37,7%, về sản lượng giảm 23,7% so với cùng kỳ; nguyên nhân chính khiến xuất khẩu gạo sang Philippines giảm trong 11 tháng năm 2025 là do Philippines tạm dừng nhập khẩu để bảo vệ nông dân trong nước, đồng thời sản lượng lúa gạo nội địa của họ đạt kỷ lục. Ngoài ra, giá gạo thế giới giảm do nguồn cung dồi dào từ nhiều quốc gia và nhu cầu tiêu thụ yếu cũng gây áp lực lên gạo Việt Nam cũng như xuất khẩu gạo của tỉnh;- Châu Âu ước đạt 347,1 triệu USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ, chiếm 21,4%, xuất khẩu chủ yếu qua các thị trường như; Đức, Anh, Hà Lan và Bỉ; các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm từ chất dẻo, sản phẩm gỗ, hàng dệt may; - Châu Đại Dương ước đạt 37,5 triệu USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ, chiếm 2,3%, xuất khẩu chủ yếu qua các thị trường New Zealand và Australia; - Châu Phi ước đạt 19,6 triệu USD, tăng 67,1% so với cùng kỳ, chiếm 1,2%, mặt hàng xuất khẩu qua châu lục này chủ yếu là gỗ ước đạt 10,6 triệu USD, tăng 143,9% so với cùng kỳ. Hình 13. Thị trường xuất khẩu hàng hóa trực tiếp phía Gia Lai Đông (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Tình hình nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông, tháng 11 năm 2025 nhập khẩu ước đạt 50 triệu USD, giảm 7% so với tháng trước, tăng 13,8% so với cùng kỳ (cùng kỳ đạt 44 triệu USD). Mười một tháng năm 2025, nhập khẩu ước đạt 489,6 triệu USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ, trong đó: kinh tế tư nhân ước đạt 338,1 triệu USD, tăng 14%, chiếm 69,1% kim ngạch nhập khẩu; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 151,5 triệu USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ, chiếm 30,9% kim ngạch nhập khẩu. Trong các nhóm hàng hóa xuất khẩu chủ lực như: nhóm hàng gỗ; sản phẩm gỗ; hàng dệt, may và nhóm hàng thủy sản tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu, khẳng định vai trò trụ cột trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh; cụ thể, Nguyên liệu dùng cho chế biến thủy sản ước đạt 97,9 triệu USD, tăng 27%; Vải các loại ước đạt 99,1 triệu USD, tăng 37,5%; Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày ước đạt 104,4 triệu USD, tăng 8,7%; Máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng ước đạt 59,1 triệu USD, tăng 33,3%... Bên cạnh các nhóm hàng tăng cũng có một số nhóm ngành hàng giảm như: Nguyên phụ liệu dược phẩm ước đạt 14,1 triệu USD, giảm 20,1%; Gỗ và sản phẩm từ gỗ ước đạt 29,5 triệu USD, giảm 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2025: Mười một tháng năm 2025, nhập khẩu trực tiếp ước đạt 489,6 triệu USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ, nhập khẩu từ 5 châu lục, cụ thể: Châu Á ước đạt 392,5 triệu USD, tăng 21,3%, chiếm 80%; Châu Âu ước đạt 32,6 triệu USD, tăng 39,7%, chiếm 6,7%; Châu Mỹ ước đạt 44,4 triệu USD, giảm 15,1%, chiếm 9,1%; Châu Đại Dương ước đạt 7,2 triệu USD, giảm 21,4%, chiếm 1,5%; Châu Phi ước đạt 12,9 triệu USD, tăng 76%, chiếm 2,7% so với kim ngạch nhập khẩu trực tiếp. * Phía Gia Lai Tây Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 109,8 triệu USD, giảm 10,1% so với tháng trước và giảm 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 2.002,1 triệu USD, tăng 37,7% so với cùng kỳ, cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 1.154,1 triệu USD. - Kim ngạch xuất khẩu tháng 11 năm 2025 ước thực hiện 75,1 triệu USD, giảm 6,0% so với tháng trước và giảm 18,9% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, xuất khẩu ước đạt 1.578,1 triệu USD, tăng 47,6% so với cùng kỳ. - Kim ngạch nhập khẩu tháng 11 năm 2025 ước thực hiện 34,7 triệu USD, giảm 18,0% so với tháng trước và giảm 7,7% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, KNNK ước thực hiện 424,0 triệu USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ. Hình 14. Xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Tây (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)5.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Trong tháng 11, một số tỉnh bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 13 và trận ngập lụt cục bộ tạo ra một cú sốc lên cả nguồn cung hàng hoá (đặc biệt nông sản, thực phẩm) lẫn hạ tầng cung ứng (giao thông, phân phối, logistics, điện…) - từ đó ảnh hưởng đến giá cả tiêu dùng nói chung. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng 1,13% so với tháng trước, tăng 5,22% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,64% so với kỳ gốc năm 2024. Bình quân 11 tháng năm 2025, CPI tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước.Hình 15. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 và bình quân 11 tháng năm 2025 Tháng 11 so với tháng trước, 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều có xu hướng tăng, đó là: tăng cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,35%, nguyên nhân do tâm lý “cần có dự trữ trong các ngày mưa, bão” làm nhu cầu tăng đột biến”: Sau bão,lũ, người dân có xu hướng mua dự trữ lương thực, thực phẩm… đẩy cầu tăng, góp phần làm giá tăng, thêm vào đó gián đoạn sản xuất và thu hoạch nông sản dẫn đến thiếu hụt nguồn cung thực phẩm: rau, củ, quả, một số lương thực, thực phẩm tươi dễ hỏng trong điều kiện mưa lũ nên giá thực phẩm tăng mạnh; nhóm giao thông tăng 1,36%; nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 0,65%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,25%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,14%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,10% và nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%. nhóm giáo dục tăng 0,01%. Tháng 11 so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng 5,22% so với cùng kỳ, có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tăng giá cụ thể: Tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 20,98%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 10,85%; kế tiếp nhóm giáo dục tăng 7,29%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,40%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,97%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,45%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,22%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35% và nhóm giao thông tăng 1,17%. Ngược lại có 1 nhóm giảm: nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,3%. Bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09/11 nhóm hàng tăng giá, 02/11 nhóm hàng giảm giá, cụ thể: (1) Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,37%, trong đó: Thực phẩm tăng 2,64%, chủ yếu do giá thịt lợn, rau củ và thủy hải sản tăng nhẹ trở lại. Ăn uống ngoài gia đình tăng 2,41%, nhóm này tác động tăng đến CPI chung. (2) Đồ uống và thuốc lá tăng 0,91%, giá các mặt hàng này ổn định, chỉ tăng nhẹ do chi phí vận chuyển và nguyên liệu đầu vào tăng, nhưng được bù lại bởi cạnh tranh thị trường và sức mua chưa cao. (3) May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,46%, nhóm này tăng theo yếu tố mùa vụ, đặc biệt trong tháng 11/2025 xảy ra bão lụt làm tăng nhu cầu may mặc, giày dép tăng cao. (4) Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,97%, đây là một trong những nhóm tăng mạnh nhất, nguyên nhân chủ yếu do: Giá điện sinh hoạt được điều chỉnh tăng theo lộ trình. Giá vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép) tăng trở lại do nhu cầu đầu tư công và thị trường xây dựng hồi phục xây dựng và sửa chữa sau bão lụt. Giá nước sạch và dịch vụ sửa chữa nhà ở cũng tăng do chi phí đầu vào và nhân công cao hơn. (5) Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,19%, giá hàng gia dụng, thiết bị điện tử tăng do tỷ giá USD tăng làm giá nhập khẩu một số mặt hàng điện máy, điện lạnh tăng nhẹ. (6) Thuốc và dịch vụ y tế tăng 23,37%, là nhóm có mức tăng cao nhất, chủ yếu do: Nhà nước điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí. Giá thuốc tân dược nhập khẩu tăng theo biến động tỷ giá và giá nguyên liệu dược thế giới. (7) Giao thông giảm 2,47%, giảm mạnh so với cùng kỳ, do: Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm theo xu hướng giá thế giới; đồng thời, nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách ổn định, không có đột biến tăng giá. Nhóm này là yếu tố chính giúp kiềm chế CPI chung, giảm áp lực lạm phát. (8) Bưu chính, viễn thông giảm 0,5%, tiếp tục xu hướng giảm nhẹ do cạnh tranh mạnh giữa các nhà mạng, gói cước giảm, khuyến mãi nhiều. (9) Giáo dục tăng 6,2%, riêng dịch vụ giáo dục tăng 6,84%, đóng góp đáng kể vào CPI chung trong tháng 9 và tháng 10 năm 2025, thêm vào đó sau đợt lụt ngập cục bộ, nhu cầu mua sắm trang thiết bị và văn phòng phẩm ngành giáo dục tăng cao. (10) Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35%, tăng nhẹ do nhu cầu du lịch, vui chơi, giải trí, tổ chức sự kiện tăng vào mùa cao điểm cuối năm. (11) Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,0%, tăng do chi phí dịch vụ cá nhân, cắt tóc, làm đẹp, đồ dùng sinh hoạt nhỏ lẻ tăng theo thu nhập và sức mua.Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Giá vàng thế giới tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị kéo dài, xung đột tại một số khu vực và xu hướng nắm giữ tài sản an toàn của các nhà đầu tư tăng cao. Đồng USD biến động mạnh, lãi suất thực tại nhiều nền kinh tế lớn giảm khiến nhà đầu tư chuyển hướng sang đầu tư vàng. Tháng 11 năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 2,14% so với tháng trước; tăng 63,05% so với cùng kỳ và bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 48,72% so với bình quân cùng kỳ. Chỉ số Đô la Mỹ tháng 11/2025 giảm 0,04% so với tháng trước, tăng 3,49% so với cùng kỳ năm 2024. Bình quân 11 tháng năm 2025, chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 3,90% so với cùng kỳ.Hình 16. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ(tháng 11 và bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)5.4. Vận tải hành khách và hàng hóa Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tháng 11 tăng khá, chủ yếu do nhu cầu đi lại của cán bộ công chức do sáp nhập tỉnh, góp phần thúc đẩy doanh thu chung của ngành vận tải, kho bãi so với tháng trước và so với cùng kỳ. Vận tải hành khách Tháng 11/2025, khối lượng vận chuyển đạt 6,8 triệu lượt khách, giảm 6,5% so với tháng trước và tăng 19,3% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 930,3 triệu lượt khách.km, giảm 5,2% so với tháng trước và tăng 23,7% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 75,7 triệu hành khách, tăng 14,5% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 9.970,1 triệu hành khách.km, tăng 14,9% so với cùng kỳ. Vận tải hàng hóa Khối lượng vận chuyển tháng 11 ước đạt 4,8 triệu tấn, giảm 5,1% so với tháng trước và tăng 16,5% với cùng kỳ; Khối lượng luân chuyển ước đạt 724,7 triệu tấn.km, giảm 5,9% so với tháng trước và tăng 23,3% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 51,4 triệu tấn, tăng 12,6% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 7.549,8 triệu tấn.km, tăng 12,2% so với cùng kỳ. Hình 17. Vận chuyển và luân chuyển vận tải hành khách, hàng hóa (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính, chuyển phát Tổng doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy và bưu chính, chuyển phát ước tháng 11 năm 2025 đạt 1.683,1 tỷ đồng, giảm 2,8% so với tháng trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ; Trong đó, vận tải hành khách đạt 451,6 tỷ đồng, giảm 4,1% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa đạt 822,9 tỷ đồng, giảm 3,8% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 384,7 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 10,3% so với cùng kỳ; Doanh thu bưu chính chuyển phát đạt 23,9 tỷ đồng, giảm 2,7% so với tháng trước và tăng 0,1% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy và bưu chính, chuyển phát ước đạt 17.831,3 tỷ đồng tăng 10,3% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 4.824,3 tỷ đồng, tăng 14,7%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 8.600,7 tỷ đồng, tăng 10,2%; Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4.141,5 tỷ đồng tăng 6,3%; Doanh thu bưu chính, chuyển phát đạt 264,8 tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ.Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 11 năm 2025 ước đạt 1.060 nghìn TTQ, giảm 3,5% so với tháng trước, giảm 4,0% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025 sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển ước đạt 12.595,3 nghìn TTQ, giảm 5,0% so với cùng kỳ năm trước.Hình 18. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)6. Các vấn đề xã hội6.1. Tình hình đời sống dân cưTrong tháng, xảy ra hai đợt thiên tai: Cơn bão số 13 (Kalmaegi) và trận lũ lụt lịch sử từ ngày 19-20/11 gây thiệt hại lớn về người và vật chất, ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh. Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu toàn bộ hệ thống chính trị huy động tối đa lực lượng, phương tiện để cứu hộ, khắc phục, bảo đảm an toàn và ổn định đời sống Nhân dân; kiểm tra, đánh giá thiệt hại, tháo gỡ khó khăn cho các địa phương, đôn đốc công tác khắc phục, khôi phục sản xuất, hạ tầng thiết yếu và thăm hỏi, động viên các gia đình bị thiệt hại. Đến nay đời sống của người dân chịu ảnh hưởng của bão, lũ cơ bản ổn định, các điều kiện sống và sinh hoạt được đảm bảo, tỉnh tiếp tục thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phòng chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm; hỗ trợ chính sách cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, giải pháp cho vay, tạo việc làm,… góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống Nhân dân trên địa bàn tỉnh.6.2. Tình hình dịch bệnh và chăm sóc sức khỏeCông tác phòng, chống dịch bệnh được tập trung triển khai kịp thời, hiệu quả. Đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị phòng chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, công tác y tế dự phòng, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tiếp tục được quan tâm chỉ đạo. Duy trì thường xuyên hoạt động truyền thông về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giám sát các nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trong cộng đồng, kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm vi phạm về an toàn thực phẩm. Thường xuyên chỉ đạo, giám sát, kiểm tra các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai thực hiện, tuân thủ các quy trình chuyên môn, kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải tiến quy trình khám bệnh; triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ và cải thiện các điều kiện phục vụ sinh hoạt của người bệnh; nâng cao tinh thần trách nhiệm và phong cách, thái độ phục vụ của nhân viên y tế, đi đôi với đảm bảo vệ sinh môi trường và tạo dựng cảnh quan cơ sở y tế “xanh, sạch, đẹp” hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Trong tháng ngành Y tế tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ các địa phương trên địa bàn tỉnh xử lý bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng. Sau bão số 13 và lũ lụt, ngành Y tế đã Chỉ đạo Y tế dự phòng công tác phòng, chống dịch bệnh, giám sát dịch tễ, kiểm dịch và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh đặc biệt là các địa phương chịu ảnh hưởng.6.1. Tai nạn giao thông Trong tháng 11/2025 (từ ngày 15/10/2025 đến ngày 14/11/2025), trên địa bàn tỉnh xảy ra 73 vụ tai nạn giao thông (trong đó: 71 vụ tai nạn đường bộ và 2 vụ tai nạn đường sắt) tăng 43,1% (+22 vụ) so với tháng trước và giảm 14,1% (- 12 vụ) so với cùng kỳ; làm 48 người chết, tăng 54,8% (+17 người) so với tháng trước và giảm 9,4% (-5 người) so với cùng kỳ năm trước; làm 51 người bị thương, tăng 54,5% (+18 người) so với tháng trước và giảm 8,9% (-5 người) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 633 vụ tai nạn giao thông, giảm 29,4% (- 263 vụ); làm 460 người chết, giảm 5,3% (-26 người); làm 397 người bị thương, giảm 37,5% (-238 người) so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 1 tháng trong 11 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, làm 42 người chết và 36 người bị thương. Đăng ký phương tiện cơ giới đường bộ, đường thủy: Ôtô đăng ký mới 1.580 ô tô, 9.711 mô tô; nâng tổng số phương tiện đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 2.884.174 phương tiện, trong đó 194.730 ô tô, 2.678.901 mô tô, 6.788 xe máy điện và 3.755 phương tiện khác.Kết quả công tác xử lý vi phạm Trật tự an toàn giao thông: Lập biên bản 10.832 trường hợp, phạt tiền hơn 17 tỷ đồng, tạm giữ 19 ô tô, 1.210 mô tô, 10 phương tiện khác và 6.545 giấy tờ phục vụ công tác xử lý; tước GPLX: 236 trường hợp, trừ điểm GPLX: 1.488 trường hợp. 2026 và dự thảo Khung hợp tác truyền thông chính sách và quảng bá hình ảnh tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030. Bên cạnh tổ chức tốt các sự kiện, sản phẩm du lịch mới, ngành du lịch đã tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định trong hoạt động kinh doanh du lịch tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú; kiểm tra hoạt động vận tải khách du lịch và hoạt động của hướng dẫn viên du lịch; tạo hình ảnh về một không gian đẹp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút du khách trong và ngoài nước.6.1. Tình hình môi trường - Vi phạm môi trường Trong tháng 11/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 23 vụ vi phạm môi trường, tăng 43,8% so với cùng kỳ; đã thực hiện xử lý 12 vụ, giảm 25,0% so với cùng kỳ; thu nộp về ngân sách 821 triệu đồng, tăng 741 triệu đồng so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025, đã phát hiện 171 vụ vi phạm môi trường, giảm 35,5% (- 94 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 124 vụ, giảm 53,2% (-141 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 1.949,6 triệu đồng, tăng 650 triệu đồng so với cùng kỳ. - Tình hình thiên tai Trong tháng 11/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ thiệt hại do bão và mưa lớn, làm 5 người chết và 11 người bị thương; Thiệt hại về tài sản: làm 1.189 ngôi nhà bị sập cuốn trôi, 134.394 ngôi nhà bị ngập và tốc mái; 3.613 ha diện tích lúa; 15.058 ha cây trồng hàng năm (cây ngô, mì) bị ngập, đổ ngã; 4.891 con gia súc và 390.846 gia cầm bị chết. Ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 11.632 tỷ đồng./.
Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai tháng 10 và 10 tháng 2025
- 03/11/2025 08:55
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10, 10 tháng năm 2025 với những kết quả như sau: - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10/2025 giảm 1,14% so với tháng trước và tăng 8,79% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng năm 2025 tăng 9,70% so với cùng kỳ; - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2025 ước đạt 17.073,0 tỷ đồng, giảm 2,0% so với tháng trước, và tăng 21,1% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 166.065,8 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ; - Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2025 ước đạt 3.801 triệu USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 2.978,1 triệu USD, tăng 23,7%; nhập khẩu ước đạt 822,9 triệu USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 2.155,2 triệu USD [1]; - Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 10 năm 2025 ước đạt 1.100 nghìn TTQ, tăng 6,7% so với tháng trước, giảm 5,2% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, ước đạt 11.537,1 nghìn TTQ, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm trước; - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Số liệu Xuất-Nhập khẩu trên địa bàn phía Đông Gia Lai do Thống kê tỉnh tổng hợp từ Điều tra hàng tháng; số liệu phía Tây Gia Lai do các Chi cục Hải quan khu vực cung cấp.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 10, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào gieo cấy, chăm sóc lúa mùa và thu hoạch vụ hè thu. Chăn nuôi phát triển ổn định, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, các dự án chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao ngày càng được mở rộng, đa dạng giống nuôi, công tác tái đàn được quan tâm đầu tư. Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào trồng rừng, khai thác gỗ theo kế hoạch. Nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định, các cơ sở tăng cường ứng dụng công nghệ cao, khai thác thủy sản kết hợp các biện pháp bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, thời tiết bất lợi đã ảnh hưởng đến hoạt động khai thác thủy sản biển.a) Nông nghiệp Đối với lúa vụ Mùa, diện tích gieo trồng tính đến ngày 21/10/2025 đạt 53.784,9 ha, giảm 0,3% (-170 ha) so với cùng kỳ. Diện tích thu hoạch đạt 49.320,9 ha, giảm 0,2% (-113,7 ha) so với cùng kỳ. Tính đến ngày 21/10/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng các loại cây chủ lực, như sau: Cây ngô 46.582,5 ha, tăng 0,7% (+314,1 ha) so với cùng kỳ; cây lạc 14.062,6 ha, giảm 1,1% (-157 ha) so với cùng kỳ; rau các loại 49.766,6 ha, tăng 2% (+965,7 ha) so với cùng kỳ; đậu các loại 22.781,1 ha, giảm 1,5% (-357,9 ha) so với cùng kỳ. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số loại cây(Đến ngày 21/10/2025 so với cùng kỳ) Đến thời điểm 21/10/2025, tiến độ diện tích trồng mới và tái canh cây lâu năm ước đạt 5.412 ha, trong đó cây cà phê trồng mới và tái canh ước khoảng 2.794,7 ha, cây cao su 23,4 ha, cây điều 34,2 ha, cây tiêu 77,9 ha, cây chuối 307,4 ha, cây sầu riêng 641,6 ha. Các loại cây trồng khác như cao su, các loại cây ăn quả vẫn đang tiếp tục tiến hành thu hoạch đúng tiến độ. Tình hình chăn nuôi: Tính đến tháng 10/2025, đàn trâu của tỉnh ước đạt 26.639 con, giảm 4,7% (-1.319 con) so với cùng kỳ. Đàn bò ước đạt 808.020 con, tăng 3,5% (+27.438 con) so với cùng kỳ; trong đó, bò sữa ước đạt 14.287 con, tăng 3,3% (+463 con) so với cùng kỳ. Đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) ước đạt 1.675.537 con, tăng 18,3% (+258.749 con) so với cùng kỳ. Đàn gia cầm ước đạt 18.644,5 nghìn con, tăng 9,5% (+1.612,1 nghìn con) so với cùng kỳ; trong đó, đàn gà có 16.226 nghìn con, tăng 10,6% (+1.553,2 nghìn con) so với cùng kỳ.Hình 2. Số lượng đầu con gia súc, gia cầm(Tháng 10 năm 2025 so với cùng kỳ)a) Lâm nghiệp Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng 10 năm 2025 tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả rừng trồng bằng biện pháp thâm canh rừng trồng sản xuất, sử dụng cây giống nuôi cấy mô, cây giống lâm nghiệp mới, chất lượng cao phục vụ trồng rừng cây gỗ lớn. Trong tháng 10/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung được 2.825,9 ha, giảm 23,7% (-877,2 ha) so với cùng kỳ, lũy kế từ năm trồng được 18.335,4 ha, tăng 1% (+180,9 ha) so với cùng kỳ. Các đơn vị chuyên môn tiếp tục triển khai các kế hoạch chăm sóc rừng đã trồng, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, tiếp tục trồng rừng các đợt tiếp theo cho kịp kế hoạch đã đề ra. Ước tính tháng 10/2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 199.800 m³ tăng 3,2% (+6.256 m³) so với cùng kỳ, lũy kế từ năm sản lượng gỗ ước đạt 1.739.515,2 m³, tăng 5,8% (+95.438,2 m³) so với cùng kỳ, chủ yếu là các loại gỗ nguyên liệu dùng cho sản xuất và nhu cầu thiết yếu của hộ gia đình.Hình 3. Tình hình lâm nghiệp(10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Về tình hình cháy rừng: Trong tháng 10/2025 trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ việc. Lũy kế từ năm đến nay, xảy ra 02 vụ cháy rừng trồng, diện tích rừng bị thiệt hại 6,2 ha[1], giảm 246 ha so với cùng kỳ năm 2024. Về vi phạm phá rừng: Trong tháng 10/2025, phát hiện và lập biên bản 1 vụ vi phạm, diện tích thiệt hại 1,0 ha, giảm 65,0% (-1,8 ha) so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đến nay, phát hiện và lập biên bản 50 vụ, diện tích rừng bị phá 18 ha, giảm 54,8% (-21,8 ha) so với cùng kỳ. [1] Phường Hoài Nhơn Bắc: 01 vụ, diện tích 5,7 ha; xã Đăk Sơ Mei: 01 vụ, diện tích 0,45 ha. Thời tiết tháng 10 diễn biến tương đối phức tạp, hoạt động khai thác thủy sản chịu ảnh hưởng của 03 cơn bão và áp thấp nhiệt đới trên biển, ngư dân đã chủ động di chuyển ngư trường nên sản lượng khai thác thủy sản vẫn duy trì ở mức tăng trưởng so với cùng kỳ 2024; hoạt động nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục phát triển ổn định. Sản lượng khai thác thủy sản biển tháng 10/2025 ước đạt 22.740,4 tấn, tăng 3,7% (+813,4 tấn) so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng sản lượng ước đạt 244.780,5 tấn, tăng 2,8% (+6.679,8 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cá các loại tháng 10/2025 ước đạt 20.575,8 tấn, tăng 3,6% (+707,3 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng cá ước đạt 217.467,3 tấn, tăng 2,6% (+5.470,4 tấn) so với cùng kỳ; tôm tháng 10/2025 ước đạt 103,5 tấn, tăng 14,2% (+12,9 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng tôm ước đạt 1.191,6 tấn, tăng 18,8% (+188,4 tấn) so với cùng kỳ và thủy sản khác ước đạt 2.061,1 tấn, tăng 4,7% (+93,2 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng thủy sản khác ước đạt 26.121,6 tấn, tăng 4,1% (+1.021 tấn) so với cùng kỳ. Toàn tỉnh tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp cấp bách về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) và các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ theo quy định. Tiếp tục tăng cường hướng dẫn các hộ nuôi các biện pháp chủ động phòng chống dịch bệnh, định kỳ kiểm tra, giám sát các cơ sở nuôi để tránh dịch bệnh lây lan. Hướng dẫn các hộ nuôi chọn các loại giống chất lượng, ít nhiễm bệnh; ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ cao trong quá trình nuôi đạt năng suất cao, giảm thiểu các chi phí nuôi. Nuôi tôm hùm thương phẩm, mực lá có giá trị kinh tế cao được chú trọng quan tâm. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 10/2025 ước đạt ước đạt 2.319,7 tấn, tăng 2,1% (+47,7 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng ước đạt 17.258,6 tấn, tăng 0,5% (+91,2 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cá tháng 10 ước đạt 842,5 tấn, tăng 1,2% (+9,8 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng cá ước đạt 7.558,1 tấn, tăng 2% (+145,6 tấn) so với cùng kỳ, sản lượng tôm tháng 10 ước đạt 1.247,8 tấn, giảm 4,1% (-53,9 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng tôm ước đạt 8.104 tấn, giảm 5% (-426,3 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản khác tháng 10 ước đạt 229,4 tấn, tăng 66,7% (+91,8 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng thủy sản khác ước đạt 1.596,5 tấn, tăng 30,4% (+371,9 tấn) so với cùng kỳ.Hình 4. Sản lượng khai thác thủy sản biển chia theo loại con(10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)1. Sản xuất công nghiệp Thời gian qua, UBND tỉnh Gia Lai đã chủ động chỉ đạo và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm thúc đẩy phát triển công nghiệp trên địa bàn. Tỉnh tập trung rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề; đồng thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, đôn đốc tiến độ các dự án công nghiệp trọng điểm đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch. Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2025 ghi nhận sự khởi sắc, chỉ số IIP tăng 9,7% so với cùng kỳ, phản ánh nỗ lực duy trì đà tăng trưởng và phục hồi tích cực của ngành. Kết quả này là nền tảng quan trọng để tỉnh phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2025.2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2025 so với tháng trước giảm 1,14%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,09%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,78%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện giảm mạnh 11,49%; hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải giảm 0,49%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2025 tăng 8,79% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 26,45%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,29%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 11,31%; hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,24%. Trong bối cảnh kinh tế trong nước dần phục hồi sau những tác động từ biến động toàn cầu, ngành công nghiệp tỉnh Gia Lai tiếp tục khẳng định vai trò động lực đối với tăng trưởng kinh tế địa phương. Nhờ lợi thế về nguồn tài nguyên, lực lượng lao động dồi dào và môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2025 đã ghi nhận những kết quả khả quan, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,7% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi và mở rộng sản xuất, đồng thời tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong thời gian tới.Hình 5. Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp(10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,95%. Nguyên nhân do các mỏ khoáng sản titan đang dần cạn kiệt, doanh nghiệp hết giấy phép khai thác đã chuyển sang các ngành nghề kinh doanh khác. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,88%, là trụ cột chính của tăng trưởng công nghiệp. Trong đó, nhóm ngành tăng cao như: Chế biến thực phẩm; Sản xuất trang phục; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác. Tình hình sản xuất ở một số ngành chủ yếu của tỉnh: - Ngành chế biến thực phẩm tăng 9,49% do một số sản phẩm tăng như: Thức ăn gia súc tăng 7,66%; thức ăn gia cầm tăng 14,7%; tôm đông lạnh tăng 153,61%; sản phẩm sữa và kem tăng 11,46%; đường RS tăng cao 20,78% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, một số sản phẩm bị giảm sản lượng như: Tinh bột sắn giảm 4,11% do giá sắn tươi giảm, người dân chuyển đổi cây trồng sang trồng mía, nguồn nguyên liệu đầu vào giảm nên lượng sản xuất giảm; sản lượng đường RE giảm 3,61%; nước cam, chanh, quít, bưởi tươi giảm 15,8% do giá chanh dây không ổn định, có thời điểm xuống thấp nên người dân chặt bỏ chuyển sang trồng các loại cây khác như cà phê, sầu riêng dẫn đến sản lượng chanh dây sụt giảm mạnh, ảnh hưởng đến các nhà máy chế biến đóng trên địa bàn phải thu hẹp quy mô sản xuất. - Ngành sản xuất trang phục tăng 16,85%, phản ánh sự ổn định và phát triển của ngành may mặc trong tỉnh. Đây là một trong những điểm sáng nổi bật của hoạt động công nghiệp trong 10 tháng năm 2025. - Ngành sản xuất thuốc tăng nhẹ 2,66% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do Công ty Kabi đang triển khai bổ sung thêm một dây chuyền sản xuất mới nhằm nâng công suất hoạt động. Tuy nhiên, để đảm bảo độ vô khuẩn tuyệt đối của sản phẩm dung dịch truyền, trong quá trình lắp đặt dây chuyền mới, các dây chuyền hiện tại cũng phải tạm ngừng sản xuất, dẫn đến sản lượng chung của doanh nghiệp tăng chậm. - Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 31,47%, đóng góp chính từ sản phẩm gạch ốp lát tăng rất mạnh (+202,72%). Nguyên nhân do có 2 dự án có vốn đầu tư lớn đi vào hoạt động gồm Công ty cổ phần Takao Bình Định và Công ty CP Công nghiệp Kamado. - Ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 4,91%, đà tăng trưởng của ngành đang có dấu hiệu chững lại do nhu cầu tiêu thụ suy giảm, chịu ảnh hưởng từ những biến động bất ổn của thị trường cả trong nước và quốc tế, nhất là đối với sản phẩm tấm lợp kim loại. - Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 1,54% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nhiều khó khăn do ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách thuế thương mại của Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam. Là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành, việc Mỹ chính thức áp thuế 20% đã dẫn đến các doanh nghiệp lâm vào tình trạng giảm đơn hàng, sản lượng sản xuất và tốc độ tăng trưởng chững lại. Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 16,41%. Đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp của tỉnh. Sản lượng điện tăng trưởng mạnh, chủ yếu nhờ vào sản lượng thủy điện, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng ngành, tăng 23,51% so với cùng kỳ do mở rộng nhà máy thủy điện Yaly với vốn đầu tư 6.398 tỷ đồng. Ngoài ra, mùa mưa đến sớm, lượng nước dồi dào giúp các hồ chứa tích trữ tốt, nâng cao hiệu suất phát điện. Điện gió cũng ghi nhận mức tăng 16,53% nhờ điều kiện gió thuận lợi. Điện mặt trời giảm nhẹ 0,77% do thời tiết nhiều mây và sự cắt giảm huy động điện mặt trời trong một số thời điểm. Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,05%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 3,83%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 33,23%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 16,28%.2.2. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động tháng 10/2025 của tỉnh tăng 2,18% so với tháng trước, chủ yếu nhờ hai ngành sử dụng nhiều lao động: Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế bắt đầu tuyển thêm nhân công phục vụ mùa hàng mới; ngành may trang phục tăng nhu cầu tuyển dụng do Công ty TNHH Delta Galil Việt Nam đang tuyển bổ sung khoảng 1.000 lao động từ nay đến cuối năm 2025. Trong đó, Công nghiệp khai khoáng tăng 0,56%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,46%; Sản xuất và phân phối điện giảm 0,07%; riêng Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giữ ổn định so với tháng trước. Chỉ số sử dụng lao động tháng 10/2025 giữ ổn định, chỉ tăng 0,59% so với cùng kỳ. Trong đó, Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,16%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 7,14%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,38%. Riêng ngành khai khoáng giảm 0,14%. Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ chỉ số sử dụng lao động tháng 10/2025 của khối doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,13%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 1,43%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9,14%.2. Thu hút đầu tư và tình hình phát triển doanh nghiệp[1] Công tác xúc tiến, thu hút đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh. Trong thời gian qua, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Gia Lai năm 2025. Hội nghị có sự tham dự của các tổ chức quốc tế, các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức xúc tiến đầu tư và hơn 400 doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng tham gia. Tại Hội nghị đã trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và ký kết ghi nhớ hợp tác đầu tư (MOU) cho 69 dự án với tổng vốn 119.700 tỷ đồng, tương đương hơn 4,6 tỷ USD. Trong đó, trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 27 dự án, tổng vốn đăng ký 26.300 tỷ đồng tương đương hơn 01 tỷ USD; ghi nhớ hợp tác đầu tư (MOU) 42 dự án, với tổng vốn đầu tư dự kiến lên đến 93.400 tỷ đồng, tương đương gần 3,6 tỷ USD. Về thu hút đầu tư: Lũy kế từ năm đến nay, toàn tỉnh thu hút 157 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký đầu tư là 82.752,5 tỷ đồng, trong đó có 143 dự án đầu tư trong nước có tổng vốn đăng ký 47.264,8 tỷ đồng và 14 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 35.487,7 tỷ đồng (tương đương 1.410,8 triệu USD). Trong đó: + Có 26 dự án đầu tư vào Cụm công nghiệp (CCN)với tổng vốn đầu tư 772 tỷ đồng (bình quân 30 tỷ đồng/dự án), tổng diện tích 41 ha. Hiện có 13 dự án đang triển khai thủ tục với vốn đầu tư 957,5 tỷ đồng, diện tích 26 ha. Tính đến nay, có 39 dự án đăng ký đầu tư vào CCN với tổng vốn đăng ký 1.729,5 tỷ đồng, tổng diện tích 67 ha. + Có 92 dự án sản xuất công nghiệp đi vào hoạt động (Kế hoạch năm 2025 có 100 dự án đi vào hoạt động) với tổng vốn đầu tư 10.758 tỷ đồng đi vào hoạt động (trong các CCN có 30 dự án với tổng vốn đầu tư 1.712 tỷ đồng đã đi vào hoạt động); trong đó, có 09 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 9.235 tỷ đồng. Về phát triển doanh nghiệp: Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Luỹ kế từ 01/01/2025 đến ngày 23/10/2025, trên địa bàn tỉnh có 2.596 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 20.006 tỷ đồng.3. Đầu tư Năm 2025 đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tỉnh Gia Lai trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội; là năm tăng tốc, bứt phá để hoàn thành các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, đồng thời đặt nền tảng vững chắc cho giai đoạn 2026 - 2030. Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 05/01/2025 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành, phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công, gắn với mục tiêu tăng tốc tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, phát triển kết cấu hạ tầng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững, hiệu quả. Tốc độ giải ngân vốn đầu tư công 10 tháng năm 2025 ước đạt 81% kế hoạch năm, thể hiện nỗ lực của các chủ đầu tư và nhà thầu trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm, góp phần hoàn thành mục tiêu kế hoạch đầu tư công năm 2025. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2025 ước đạt 1.280,5 tỷ đồng, giảm 6,1% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 11.801,3 tỷ đồng, tăng 30,1% so với cùng kỳ, đạt 81% kế hoạch năm, trong đó: - Vốn Ngân sách cấp tỉnh đạt 8.610,5 tỷ đồng, tăng 29,4%, đạt 80,5% so với kế hoạch; - Vốn Ngân sách cấp xã đạt 3.190,8 tỷ đồng, tăng 31,8%, đạt 82,3% so với kế hoạch.Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý(10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Nguồn từ Báo cáo 293/BC-STC ngày 22/10/2025 về Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 11 năm 2025. Tình hình thực hiện một số công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh Trong 10 tháng năm 2025, nhiều dự án, công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai quyết liệt, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường kết nối liên vùng. - Lĩnh vực giao thông: Các dự án giao thông trọng điểm, có tính chất kết nối liên vùng được đẩy mạnh triển khai như: Đường ven biển tỉnh Bình Định đoạn Cát Tiến - Diêm Vân, đường ven biển (ĐT.639) đoạn từ Quốc lộ 1D - Quốc lộ 19 mới, đường liên huyện Mang Yang - Ia Pa, đường tỉnh 669 và đường từ thành phố Pleiku đi trung tâm huyện Đak Đoa, đường hành lang kinh tế phía Đông (đường tránh Quốc lộ 19)… Bên cạnh đó, một số dự án giao thông trọng điểm đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, bước đầu phát huy hiệu quả tích cực trong thúc đẩy lưu thông hàng hóa, giảm ùn tắc, mở rộng không gian phát triển đô thị và công nghiệp, tiêu biểu như: Xây dựng tuyến đường tránh phía Nam thị trấn Phú Phong; tuyến đường kết nối đường phía Tây tỉnh đến đường ven biển qua địa bàn huyện Phù Mỹ; tuyến đường kết nối từ trung tâm thị xã An Nhơn đến đường ven biển phía Tây đầm Thị Nại; đường kết nối thị trấn An Lão với đường An Hòa đi Ân Hảo Tây. - Lĩnh vực y tế, giáo dục: Các dự án trọng điểm như khu xạ trị và trang thiết bị Bệnh viện Đa khoa tỉnh, đầu tư phát triển mạng lưới y tế cơ sở vùng khó khăn tỉnh Gia Lai, cùng hệ thống trường học đạt chuẩn quốc gia được thi công đúng tiến độ, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, cải thiện đời sống Nhân dân. - Lĩnh vực đô thị, hạ tầng tái định cư: Các dự án đô thị, khu tái định cư như Khu dân cư đường Nguyễn Văn Linh, khu dân cư phía bắc nhà ở xã hội Nhơn Bình, khu dân cư và tái định cư Vĩnh Hội. Việc đẩy mạnh tiến độ các công trình trọng điểm đã góp phần nâng cao khối lượng thực hiện, cải thiện tỷ lệ giải ngân, tạo xung lực tăng trưởng cho vốn đầu tư công toàn tỉnh và củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào hiệu quả đầu tư công. 1. Hoạt động Ngân hàng và thu, chi Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnha) Tình hình Ngân hàng[1] Ước tính đến cuối tháng 10/2025, tổng số dư huy động của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai ước đạt 205.740 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ và tăng 13,1% so với tháng 12 năm 2024. Tổng dư nợ cho vay tính đến 31/10/2025 ước đạt 244.280 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ và tăng 3,3% so với tháng 12 năm 2024. Ước đến 31/10/2025 nợ xấu trên địa bàn tỉnh chiếm 1,69% so với tổng dư nợ.Hình 7. Hoạt động ngân hàng(Đến 31/10/2025 so với cùng kỳ)b) Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh[2] Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nước phục hồi nhưng chưa thật sự đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực, công tác thu ngân sách nhà nước của tỉnh vẫn đạt tiến độ khá, đặc biệt là thu từ tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, một số khoản thu nội địa và thu từ xuất nhập khẩu còn đạt thấp so với dự toán; tình hình chi ngân sách, nhất là chi đầu tư phát triển, vẫn cần được tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân trong những tháng cuối năm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước và thanh toán các khoản chi trả nợ đến hạn, chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu, trợ cấp xã hội, thực hiện các nhiệm vụ chi phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chi trả kịp thời các chế độ, chính sách cho các đối tượng theo các Nghị định số 178/2024/NĐ-CP và Nghị định số 67/2025/NĐ-CP của Chính phủ. Đến ngày 23/10/2025, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 22.706 tỷ đồng, đạt 94,3% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa (trừ tiền sử dụng đất; thu cổ tức, lợi nhuận được chia và lợi nhuận còn lại, xổ số kiến thiết) đạt 11.706,1 tỷ đồng, bằng 84,7% dự toán; Thu từ tiền sử dụng đất đạt 10.066,8 tỷ đồng, bằng 115,8% dự toán, là khoản thu đạt tiến độ cao nhất, góp phần quan trọng vào tăng trưởng tổng thu ngân sách; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 419,1 tỷ đồng, bằng 42,8% dự toán, tiến độ còn thấp do kim ngạch một số mặt hàng giảm và tác động từ chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi. Về chi ngân sách nhà nước, đến cùng thời điểm, tổng chi ước thực hiện 32.954 tỷ đồng, đạt 76,3% so với dự toán năm. Trong đó, chi thường xuyên đạt 23.704 tỷ đồng, bằng 96,8% so với dự toán, tập trung chủ yếu cho các lĩnh vực giáo dục, y tế, an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh và hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Công tác giải ngân vốn đầu tư phát triển đang tiếp tục được đẩy mạnh nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương trong những tháng cuối năm.2. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịcha) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong tháng 10, các sự kiện văn hóa, du lịch như: Tuần lễ Văn hóa – Du lịch Gia Lai chào mừng kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10) và các sự kiện xúc tiến thương mại, cùng với đà phục hồi tiêu dùng nội địa, đã góp phần duy trì tăng trưởng cao của khu vực dịch vụ và bán lẻ tỉnh Gia Lai, dù chịu tác động ngắn hạn của thời tiết và yếu tố mùa vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tỉnh Gia Lai tháng 10 ước đạt 17.073 tỷ đồng, giảm 2% so với tháng trước, nhưng tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025 ước đạt 166.065,8 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ, trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 123.347,8 tỷ đồng, tăng 11,5%; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 25.305,1 tỷ đồng, tăng 20%; du lịch lữ hành ước đạt 1.157,4 tỷ đồng, tăng 23%; dịch vụ khác ước đạt 16.255,5 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 12.803,3 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,1% so với tháng trước, nhưng tăng mạnh 19,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ đạt 123.347,8 tỷ đồng, chiếm 74,3% trong doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và sản xuất phục hồi ổn định. Cơ cấu bán lẻ chuyển biến theo hướng hiện đại, phản ánh sức mua của thị trường nội địa ổn định và niềm tin tiêu dùng được củng cố. Các nhóm hàng tăng trưởng cao như: - Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tháng 10/2025 tăng 32,7% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu tiêu dùng nội thất, điện máy và đồ gia dụng cao; - Xăng, dầu các loại tháng 10/2025 tăng 23,5%, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá năng lượng trong nước điều chỉnh tăng và nhu cầu vận chuyển, sản xuất phục hồi; - Lương thực, thực phẩm tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm khoảng 40% tổng doanh thu bán lẻ, tháng 10/2025 tăng 21,0% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước; - Đá quý, kim loại và sản phẩm tháng 10/2025 tăng 17,4% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 7,5%; - Hàng gỗ và vật liệu xây dựng tháng 10/2025 tăng 14,9% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 18,5%; - Hàng may mặc tháng 10/2025 tăng 8,9% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 7,9%; - Vật phẩm văn hóa – giáo dục tháng 10/2025 tăng 11,6% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 13,3% so với cùng kỳ. Nguồn từ Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước - CN KV11; Nguồn từ Báo cáo 293/BC-STC ngày 22/10/2025 về Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 11 năm 2025. Cơ cấu thị trường: Bán lẻ hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức lưu chuyển hàng hóa – dịch vụ. Các cửa hàng bán lẻ hiện đại, siêu thị và thương mại điện tử tiếp tục mở rộng, đặc biệt tại các trung tâm phường phía Gia Lai Tây. Bên cạnh một số yếu tố rủi ro như: giá năng lượng và nguyên liệu nhập khẩu vẫn biến động phức tạp; sức mua người tiêu dùng phụ thuộc vào tiến độ thu hoạch nông sản... Tháng 10/2025, Gia Lai Tây bước vào mùa khô với khí hậu dễ chịu, tiết trời hơi se lạnh. Đây cũng là mùa lúa chín, mùa hoa dã quỳ, hoa muồng bung nở rực rỡ thuận lợi cho những du khách muốn trải nghiệm tại nơi này. Nhưng đối với Gia Lai Đông du lịch bắt đầu vào mùa thấp điểm, học sinh đi học trở lại sau kỳ nghỉ hè, thời tiết không thuận lợi cho du lịch nhất là du lịch biển đảo; do đó, hầu hết các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều giảm doanh thu so với tháng trước. Du lịch nội địa giữ vai trò chủ lực, lượng khách trong nước chiếm hơn 98% tổng lượng khách, là động lực chính thúc đẩy doanh thu lưu trú và ăn uống. Hình 8. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 10/2025 ước đạt 2.470,9 tỷ đồng, giảm 10,2% so với tháng trước và tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025 ước đạt 25.305,1 tỷ đồng, chiếm 15,2% trong doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, tăng 20,0% so với cùng kỳ, cho thấy hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống tiếp tục khởi sắc, phục hồi rõ nét sau thời kỳ chững lại của năm 2024. Trong đó: - Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 10/2025 ước đạt 266,1 tỷ đồng, giảm 9,3% so với tháng trước và tăng 35,9% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 3.030,4 tỷ đồng, tăng 19,0% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 10/2025 ước đạt 2.204,8 tỷ đồng, giảm 10,4% so với tháng trước và tăng 30,5% so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 22.274,7 tỷ đồng, tăng 20,1% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 10/2025 ước đạt 123,7 tỷ đồng, giảm 13,4% so với tháng trước, nhưng tăng 59,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đạt 1.157,4 tỷ đồng, tăng 23,0% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 10/2025 ước đạt 1.675,1 tỷ đồng, giảm 2,2% so với tháng trước, nhưng tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025 ước đạt 16.255,5 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ. Cụ thể tình hình một số ngành dịch vụ như: - Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 485,8 tỷ đồng, giảm 8,3% so với tháng trước và tăng 28% so với cùng kỳ. Sau thời gian 01/7/2025 khi hai tỉnh sáp nhập thị trường bất động sản tại địa phương đã có dấu hiệu ấm lại, đặc biệt là khu vực trung tâm hành chính mới tại Gia Lai Đông đã làm cho nhu cầu giao dịch bất động sản tăng cao so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng, doanh thu kinh doanh bất động sản đạt 4.893,8 tỷ đồng, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 191,6 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 10,3% so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ hành chính và hỗ trợ ước đạt 1.872,2 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giáo dục đào tạo ước đạt 82,9 tỷ đồng, giảm 8,3% so với tháng trước; so với cùng kỳ tăng 7%; Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 761,1 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ y tế ước đạt 172,7 tỷ đồng, tăng 3% so với tháng trước, tăng 7,4% so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ y tế ước đạt 1.664,6 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 340 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 25,4% so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng, dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 3.253,2 tỷ đồng, tăng 17,2% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 402,2 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 15,2% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ khác đạt 3.810,6 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ.a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[1] Kinh tế thế giới năm 2025 được dự báo vẫn phải đối mặt với nhiều rủi ro thách thức như xung đột và căng thẳng địa chính trị kéo theo giá dầu, khí đốt và ngũ cốc tăng cao. Điều này không chỉ khiến chi phí đầu vào cho sản xuất và vận tải toàn cầu tăng, mà còn tạo ra sức ép lạm phát nhập khẩu đối với nhiều nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Ngoài ra, các lệnh trừng phạt kinh tế, hạn chế xuất khẩu công nghệ và nguyên liệu chiến lược giữa các khối kinh tế lớn đã làm giảm tốc độ phục hồi thương mại toàn cầu, ảnh hưởng gián tiếp đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước. Nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), tiếp tục áp dụng các chính sách thuế đối ứng và quy định kỹ thuật mới trong thương mại quốc tế, nhằm bảo vệ sản xuất nội địa. Các biện pháp như tiêu chuẩn xanh, yêu cầu xuất xứ và an toàn sản phẩm được siết chặt, làm tăng chi phí tuân thủ đối với hàng xuất khẩu từ các nước đang phát triển. Đối với Việt Nam, điều này gây áp lực lên doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, cà phê, gỗ, cao su - là các mặt hàng chủ lực của Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng. Nhìn chung, dù kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều biến động, song nhờ chính sách điều hành linh hoạt của Chính phủ, sự chủ động của doanh nghiệp, hoạt động thương mại - đầu tư của tỉnh Gia Lai vẫn được duy trì ổn định và tăng trưởng tích cực trong 10 tháng năm 2025. Tháng 10, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tỉnh Gia Lai ước đạt 311,2 triệu USD, bằng tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 3.801 triệu USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ; trong đó: xuất khẩu ước đạt 2.978,1 triệu USD, tăng 23,7% và vượt 3,4% so với số kế hoạch đề ra (kế hoạch xuất khẩu năm 2025 ước 2.880 triệu USD). Nhập khẩu ước đạt 822,9 triệu USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Hình 9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tỉnh Gia Lai (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) &*** Phía Gia Lai Đông Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 191 triệu USD, tăng nhẹ 0,2% so với tháng trước, nhưng giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 1.910,7 triệu USD, tăng 6% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 1.469,5 triệu USD, tăng 2,8%; nhập khẩu ước đạt 441,2 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 1.028,3 triệu USD. Xuất khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông, tháng 10/2025 ước đạt 135,6 triệu USD, giảm 0,5% so với tháng trước, giảm 11,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ đạt 153 triệu USD). Mười tháng năm 2025, xuất khẩu ước đạt 1.469,5 triệu USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 28,7 triệu USD, giảm 37%; kinh tế tư nhân ước đạt 1.188,7 triệu USD, tăng 5,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 252 triệu USD, giảm 1% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường xuất khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2025 có tốc độ tăng trưởng tích cực, với các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc. Trong đó, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 552,6 triệu USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ (cùng kỳ đạt 496,2 triệu USD), chiếm 37,6% trong tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp, các doanh nghiệp trong tỉnh xuất khẩu qua thị trường Hoa Kỳ chủ yếu ở một số mặt hàng như: Sản phẩm gỗ ước đạt 207,7 triệu USD, tăng 11,3%; Hàng dệt, may ước đạt 210,8 triệu USD, tăng 23,6% so với cùng kỳ… Tiếp đến là thị trường Nhật Bản (283,5 triệu USD), tăng 19,4% so với cùng kỳ, chiếm 19,3%; Trung Quốc (138,1 triệu USD), giảm 30,5% so với cùng kỳ, chiếm 9,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp của tỉnh. Hình 10. Xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Đông Gia Lai (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) - Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu trong 10 tháng năm 2025 Trong các nhóm hàng hóa xuất khẩu chủ lực như: nhóm hàng gỗ; sản phẩm gỗ; hàng dệt, may và nhóm hàng thủy sản tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu, khẳng định vai trò trụ cột trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh; cụ thể, một số nhóm ngành hàng xuất khẩu tăng/giảm so với cùng kỳ trong 10 tháng năm 2025. Nhóm thủy sản với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 128 triệu USD, tăng 18%; Mặt hàng gỗ xuất khẩu ước đạt 360,1 triệu USD, tăng 0,8%; Nhóm hàng sản phẩm gỗ (bàn ghế gỗ) ước đạt 377,8 triệu USD, tăng 5,8%; Nhóm hàng dệt may xuất khẩu ước đạt 334,7 triệu USD, tăng 16,6%... Ngược lại cũng có một số nhóm ngành hàng giảm, cụ thể: Nhóm hàng gạo xuất khẩu ước đạt 28,7 triệu USD, giảm 37%; Nhóm hàng sắn và sản phẩm từ sắn xuất khẩu ước đạt 60,4 triệu USD, giảm 9,4%; Nhóm quặng và khoáng sản khác xuất khẩu ước đạt 21,4 triệu USD, giảm 5,4%; Sản phẩm từ chất dẻo (sản phẩm chính là bàn ghế nhựa giả mây) xuất khẩu ước đạt 140,8 triệu USD, giảm 14,1%. Mười tháng năm 2025, xuất khẩu trực tiếp ước đạt 1.468,9 triệu USD qua 5 châu lục, trong đó: Châu Mỹ ước đạt 596,7 triệu USD (với 25 nước), tăng 9,8% so vói cùng kỳ, chiếm 40,6% trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa trực tiếp của tỉnh Gia Lai Đông; cụ thể, thị trường Mỹ ước đạt 552,6 triệu USD, tăng 11,4%; chiếm tỷ trọng lớn (37,6%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, cho thấy tầm quan trọng của thị trường này đối với tỉnh. Hình 11. Thị trường xuất khẩu hàng hóa trực tiếp phía Gia Lai Đông (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông: Nhập khẩu ước đạt 55,5 triệu USD, tăng 1,9% so với tháng trước, so với cùng kỳ tăng 37% (cùng kỳ đạt 40,5 triệu USD). Mười tháng năm 2025, nhập khẩu ước đạt 441,2 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ, trong đó: kinh tế tư nhân ước đạt 299,2 triệu USD, tăng 13,9%, chiếm 67,8% kim ngạch nhập khẩu; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 142 triệu USD, tăng 30,2% so với cùng kỳ, chiếm 32,2% kim ngạch nhập khẩu. Mười tháng năm 2025, tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa có tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ cho thấy nhu cầu đầu vào là nguyên liệu, máy móc, thiết bị… để phục vụ cho các hoạt động sản xuất trong tỉnh lớn, phản ánh sự phục hồi tích cực trong sản xuất kinh doanh của tỉnh. Nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu trong 10 tháng năm 2025: Mười tháng năm 2025 nhập khẩu tăng chủ yếu ở nhóm hàng: Nguyên liệu dùng cho chế biến thủy sản ước đạt 92,3 triệu USD, tăng 31,2%; Vải các loại ước đạt 88 triệu USD, tăng 37%; Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày ước đạt 89,3 triệu USD, tăng 8,3%; Máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng ước đạt 61,6 triệu USD, tăng 48,4%... Bên cạnh các nhóm hàng tăng cũng có một số nhóm ngành hàng giảm như: Nguyên phụ liệu dược phẩm ước đạt 11,4 triệu USD, giảm 29,4%; Gỗ và sản phẩm từ gỗ ước đạt 27,9 triệu USD, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2025: Mười tháng năm 2025, nhập khẩu trực tiếp ước đạt 441,2 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ, nhập khẩu từ 5 châu lục, cụ thể: Châu Á ước đạt 352,2 triệu USD, tăng 22,2%, chiếm 79,8%; Châu Âu ước đạt 32,5 triệu USD, tăng 47,3%, chiếm 7,4%; Châu Mỹ ước đạt 35 triệu USD, giảm 25,2% chiếm 7,9%; Châu Đại Dương ước đạt 8 triệu USD, giảm 2,9%, chiếm 1,8%; Châu Phi ước đạt 13,5 triệu USD, tăng 107,7%, chiếm 3,1% so với kim ngạch nhập khẩu trực tiếp. * Phía Gia Lai Tây Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 120,2 triệu USD, giảm nhẹ 0,3% so với tháng trước nhưng tăng mạnh 40,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 1.890,3 triệu USD, tăng 42,8% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 1.508,6 triệu USD, tăng 54,5%; nhập khẩu ước đạt 381,7 triệu USD, tăng 10,0% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 1.126,9 triệu USD. - Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) tháng 10 năm 2025 ước thực hiện 85,5 triệu USD, giảm 1,2% so với tháng trước, nhưng tăng mạnh 85,1% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, KNXK ước thực hiện 1.508,6 triệu USD, tăng 54,5% so với cùng kỳ. - Kim ngạch nhập khẩu (KNNK) tháng 10 năm 2025 ước thực hiện 34,7 triệu USD, tăng 2,2% so với tháng trước nhưng giảm 11,3% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, KNNK ước thực hiện 381,7 triệu USD, tăng 10,0% so với cùng kỳ. b) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng nhẹ 0,10% so với tháng trước, tăng 4,13% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,64% so với tháng 12 năm 2024. Bình quân 10 tháng năm 2025 CPI tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, lạm phát được kiểm soát trong ngưỡng mục tiêu dưới 4%, phản ánh sự điều hành linh hoạt của các chính sách tài khóa – tiền tệ, cùng với diễn biến giá cả hàng hóa trong nước tương đối ổn định. Tháng 10 so với tháng trước, có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tăng nhẹ, đó là: nhóm giáo dục tăng 1,63%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,45%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,11%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,03%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,04% và nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Có 03/11 nhóm chỉ số giảm so với tháng trước là: nhóm giao thông giảm 1,1%; nhóm nhà ở, điện nước chất đốt và VLXD giảm 0,51%; nhóm văn hóa, giải trí du lịch giảm 0,04%. Và 01 nhóm hàng giữ ổn định so với tháng trước là nhóm đồ uống, thuốc lá.Tháng 10 so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng 4,13% so với cùng kỳ, có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tăng giá cụ thể: Tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 20,9%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 11,22%; kế tiếp nhóm giáo dục tăng 7,28%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,81%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,41%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,11%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,00%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,01% và nhóm đồ uống và thuốc lá tăng nhẹ 0,84%. Ngược lại có 2 nhóm giảm: nhóm giao thông giảm 0,47% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,39%. [1] Thống kê tỉnh Gia Lai thu thập thông tin, tổng hợp và báo cáo UBND tỉnh về hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông theo Quyết định số 2928/QĐ-UBND ngày 15/8/2024 của UBND tỉnh Bình Định. Đối với Gia Lai Tây, Thống kê tỉnh Gia Lai không thực hiện cuộc điều tra này, nên số liệu hàng hóa xuất nhập khẩu thu thập, tổng hợp từ báo cáo các Chi cục Hải quan khu vực. Đồ thị 1. CPI tháng 10 theo nhóm hàng hóa so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước (%) Bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 9/11 nhóm hàng tăng giá, 02/11 nhóm hàng giảm giá, cụ thể: (1) Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,26%, trong đó: Thực phẩm tăng 2,42%, chủ yếu do giá thịt lợn, rau củ và thủy hải sản tăng nhẹ trở lại. Ăn uống ngoài gia đình tăng 2,46%, phản ánh xu hướng tiêu dùng phục vụ lễ hội, du lịch và sinh hoạt xã hội sôi động hơn và lương thực tăng 1,01%. Nhìn chung, nhóm này tác động tăng nhẹ đến CPI chung, góp phần duy trì mặt bằng giá tiêu dùng ổn định. (2) Đồ uống và thuốc lá tăng 0,87%, giá các mặt hàng này ổn định, chỉ tăng nhẹ do chi phí vận chuyển và nguyên liệu đầu vào tăng, nhưng được bù lại bởi cạnh tranh thị trường và sức mua chưa cao. (3) May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,48%, nhóm này tăng theo yếu tố mùa vụ, đặc biệt trong quý IV khi nhu cầu may mặc, giày dép chuẩn bị mùa đông và dịp Tết Dương lịch tăng cao. (4) Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,69%, đây là một trong những nhóm tăng mạnh nhất, nguyên nhân chủ yếu do: Giá điện sinh hoạt được điều chỉnh tăng theo lộ trình. Giá vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép) tăng trở lại do nhu cầu đầu tư công và thị trường xây dựng hồi phục. Giá nước sạch và dịch vụ sửa chữa nhà ở cũng tăng do chi phí đầu vào và nhân công cao hơn. (5) Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,16%, giá hàng gia dụng, thiết bị điện tử tăng do tỷ giá USD tăng làm giá nhập khẩu một số mặt hàng điện máy, điện lạnh tăng nhẹ. (6) Thuốc và dịch vụ y tế tăng 23,61%, là nhóm có mức tăng cao nhất, chủ yếu do: Nhà nước điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí. Giá thuốc tân dược nhập khẩu tăng theo biến động tỷ giá và giá nguyên liệu dược thế giới. (7) Giao thông giảm 2,83%, giảm mạnh so với cùng kỳ, do: Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm theo xu hướng giá thế giới; đồng thời, nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách ổn định, không có đột biến tăng giá. Nhóm này là yếu tố chính giúp kiềm chế CPI chung, giảm áp lực lạm phát. (8) Bưu chính, viễn thông giảm 0,52%, tiếp tục xu hướng giảm nhẹ do cạnh tranh mạnh giữa các nhà mạng, gói cước giảm, khuyến mãi nhiều. (9) Giáo dục tăng 6,09%, riêng dịch vụ giáo dục tăng 6,84%, đóng góp đáng kể vào CPI chung trong tháng 9-10 năm 2025. (10) Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35%, tăng nhẹ do nhu cầu du lịch, vui chơi, giải trí, tổ chức sự kiện tăng vào mùa cao điểm cuối năm. (11) Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,20%, tăng do chi phí dịch vụ cá nhân, cắt tóc, làm đẹp, đồ dùng sinh hoạt nhỏ lẻ tăng theo thu nhập và sức mua.Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Giá vàng thế giới tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị kéo dài, xung đột tại một số khu vực và xu hướng nắm giữ tài sản an toàn của các nhà đầu tư tăng cao. Đồng USD biến động mạnh, lãi suất thực tại nhiều nền kinh tế lớn giảm khiến nhà đầu tư chuyển hướng sang vàng. Thêm vào đó, quỹ ETF vàng toàn cầu tăng lượng nắm giữ, làm giá vàng quốc tế duy trì ở mức cao. Trong nước, giá vàng biến động cùng chiều với thế giới, đồng thời chịu tác động từ cung – cầu nội địa và chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới vẫn ở mức cao. Tháng 10 năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 11,27% so với tháng trước; tăng 65,11% so với cùng kỳ và bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 47,36% so với bình quân cùng kỳ. Chỉ số Đô la Mỹ tháng 10/2025 giảm 0,46% so với tháng trước, tăng 5,35% so với cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu: Trong tháng 10, đồng USD giảm nhẹ so với các ngoại tệ chủ chốt do kỳ vọng FED sẽ giảm tốc độ thắt chặt chính sách tiền tệ, khiến tỷ giá USD/VND trong nước ổn định hoặc giảm nhẹ. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, tỷ giá vẫn tăng do chênh lệch lãi suất giữa VND và USD còn cao, nhu cầu thanh toán nhập khẩu tăng, và ngân hàng trung ương nhiều nước tiếp tục tích trữ USD. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành tỷ giá linh hoạt, can thiệp bán ngoại tệ hỗ trợ nguồn cung, góp phần ổn định thị trường ngoại hối và kiềm chế lạm phát nhập khẩu.Hình 12. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ(tháng 10 và bình quân 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)a) Vận tải hành khách và hàng hóa Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tháng 10 tăng khá chủ yếu do nhu cầu đi lại của cán bộ công chức do sáp nhập tỉnh, góp phần thúc đẩy doanh thu chung của ngành vận tải kho bãi so với tháng trước và so với cùng kỳ. Vận tải hành khách Tháng 10/2025, khối lượng vận chuyển đạt 6,97 triệu lượt khách, giảm 6,3% so với tháng trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 953,6 triệu lượt khách.km, giảm 5,4% so với tháng trước và tăng 22,8% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 68,5 triệu hành khách, tăng 13,5% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 9.011,8 triệu hành khách.km, tăng 13,7% so với cùng kỳ. Vận tải hàng hóa Khối lượng vận chuyển tháng 10 ước đạt 4,9 triệu tấn, giảm 3,6% so với tháng trước và tăng 14,9% với cùng kỳ; Khối lượng luân chuyển ước đạt 722,9 triệu tấn.km, giảm 6,3% so với tháng trước và tăng 21,5% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 46,4 triệu tấn, tăng 11,8% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 6.778,1 triệu tấn.km, tăng 10,4% so với cùng kỳ. Hình 13. Vận chuyển và luân chuyển vận tải hành khách, hàng hóa (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính, chuyển phát Tổng doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy và bưu chính, chuyển phát ước tháng 10 năm 2025 đạt 1.763,4 tỷ đồng, giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 20,8% so với cùng kỳ; Trong đó, vận tải hành khách đạt 469,8 tỷ đồng, giảm 4,0% so với tháng trước và tăng 24,3% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa đạt 867,8 tỷ đồng, giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 21,8% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 401,6 tỷ đồng, ổn định so với tháng trước và tăng 16,4% so với cùng kỳ; Doanh thu bưu chính chuyển phát đạt 24,2 tỷ đồng, giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 2,3% so với cùng kỳ. Hình 14. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy và bưu chính, chuyển phát ước đạt 16.179,6 tỷ đồng tăng 10,0% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 4.371,6 tỷ đồng, tăng 14,0%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 7.789,6 tỷ đồng, tăng 9,8%; Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 3.777,7 tỷ đồng tăng 6,5%; Doanh thu bưu chính, chuyển phát đạt 240,7 tỷ đồng, tăng 4,1% so với cùng kỳ. Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 10 năm 2025 ước đạt 1.100 nghìn TTQ, tăng 6,7% so với tháng trước, giảm 5,2% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025 sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển ước đạt 11.537,1 nghìn TTQ, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm trước.1. Các vấn đề xã hộia) Tình hình đời sống dân cư Trong tháng 10, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, đời sống dân cư luôn được nâng lên. Tỉnh tiếp tục đẩy nhanh các dự án/công trình hạ tầng giao thông trọng điểm, thu hút đầu tư và đa dạng các sản phẩm du lịch tạo điều kiện phát triển cho nhiều ngành như khách sạn, nhà hàng, thương mại, dịch vụ, tạo cơ hội mua sắm và quảng bá, giới thiệu những sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp tiêu biểu của địa phương. Bên cạnh những thuận lợi, tỉnh tiếp tục thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phòng chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm; hỗ trợ chính sách cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, giải pháp cho vay, tạo việc làm,… góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống Nhân dân trên địa bàn tỉnh.b) Tình hình dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe[1] Công tác phòng, chống dịch bệnh được tập trung triển khai kịp thời, hiệu quả. Đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị phòng chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, công tác y tế dự phòng, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tiếp tục được quan tâm chỉ đạo. Duy trì thường xuyên hoạt động truyền thông về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giám sát các nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trong cộng đồng, kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm vi phạm về an toàn thực phẩm. Tình hình một số bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm (từ ngày 15/9/2025 đến hết ngày 14/10/2025): Bệnh sốt xuất huyết: số mắc mới trong tháng 10/2025: 450 ca, luỹ kế từ đầu năm đến hết ngày 14/10/2025 là 2.897 ca; Bệnh tay - chân - miệng, số mắc mới trong tháng là 132 ca, luỹ kế 10 tháng là 672 ca; Bệnh sốt phát ban nghi Sởi: trong tháng ghi nhận 01 ca mắc mới, luỹ kế: 4.134 ca; Bệnh Sốt rét: từ đầu năm đến nay không có ca mắc mới. Về công tác tiêm chủng mở rộng: Số trẻ dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ: 31.432/43.611 đối tượng, tỷ lệ 72,1%. Số trẻ được tiêm viêm gan B trước 24 giờ sau khi sinh: 26.379/43.611, tỷ lệ 60,5%. Số trẻ bị phản ứng sau tiêm chủng: 62 trường hợp, luỹ kế: 1.173 trường hợp (phản ứng thông thường). Số phụ nữ có thai tiêm phòng uốn ván > 2 mũi: 25.822/43.028 đối tượng, tỷ lệ 60,0%. * Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm Tháng 10/2025, thực hiện kiểm tra 20 cơ sở về công tác bảo đảm an toàn thực phẩm, không có cơ sở vi phạm. Trong tháng không ghi nhận trường hợp ngộ độc thực phẩm. Tính chung 10 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm với 160 người mắc bệnh, đã được cấp cứu kịp thời, không có trường hợp tử vong. Nguyên nhân ngộ độc chủ yếu là do ăn nấm chưa rõ loại, thức ăn trong tiệc tân gia và độc tố tự nhiên trong thịt cóc. Các vụ ngộ độc này đều gây ra hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, tuy nhiên đã được kiểm soát kịp thời.c) Tai nạn giao thông Trong tháng 10/2025 (từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025), trên địa bàn tỉnh xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông, tăng 27,5% (+11 vụ) so với tháng trước và giảm 36,2% (- 29 vụ) so với cùng kỳ; làm 31 người chết, tăng 14,8% (-4 người) so với tháng trước và giảm 40,4% (-21 người) so với cùng kỳ năm trước; làm 33 người bị thương, tăng 22,2% (+6 người) so với tháng trước và giảm 28,3% (-13 người) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 561 vụ tai nạn giao thông, giảm 30,7% (- 249 vụ); làm 413 người chết, giảm 4,6% (-20 người); làm 349 người bị thương, giảm 39,8% (-234 người) so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 1 tháng trong 10 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông, làm 41 người chết và 35 người bị thương.a. Theo số liệu Ban An toàn Giao thông tỉnh, tính từ ngày 15/6/2025 đến ngày 14/7/2025 Toàn tỉnh tiến hành đăng ký mới 661 xe ô tô, 3.517 xe mô tô. Tổng số phương tiện hiện đang quản lý là: 2.841.568 phương tiện (ôtô 187.673 xe, mô tô 2.644.764 xe, 5.376 xe máy điện, 3.755 phương tiện khác.d) Giáo dục[2] Trong tháng 10, chuẩn bị và tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 năm học 2025-2026, tổ chức tại 03 điểm thi với 56 phòng thi, 1.186 thí sinh đăng ký dự thi ở các môn thi. Triển khai đánh giá ngoài kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia 09 cơ sở giáo dục mầm non và trường phổ thông. Hoàn thành việc tổ chức kỳ thi cuối khóa tiếng dân tộc thiểu số, khóa thi tháng 10/2025 tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh. Triển khai, tổ chức hưởng ứng Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025 trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2025-2026 đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Công tác quản lý việc dạy thêm, học thêm được tăng cường; hoạt động chuyển đổi số và phát triển giáo dục STEM trên địa bàn tiếp tục được đẩy mạnh. Quy mô mạng lưới trường lớp các cấp học được củng cố, mở rộng và phân bổ đến hầu hết các địa bàn dân cư xã, phường đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đưa trẻ đến trường và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Việc triển khai các tiểu dự án đào tạo nghề và việc làm thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia được các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm triển khai thực hiện đồng bộ, các dự án đã bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân trên địa bàn tỉnh. Tổ chức kiểm tra, giám sát công tác đào tạo nghề theo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tại các địa phương; đôn đốc 77 xã Gia Lai (sau sáp nhập) khẩn trương tổ chức đào tạo nghề theo các Chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là đào tạo nghề cho người lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Triển khai thực hiện Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” tại các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh.e) Văn hóa, thể dục và thể thao[3] * Về văn hóa: Tiếp tục triển khai xây dựng các Đề án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh trong Danh sách của UNESCO và Danh mục quốc gia gồm: Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Hát bội và Bài chòi Bình Định, giai đoạn 2025 - 2030; Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 - 2030. Triển khai công tác tham gia Liên hoan Hô hát Bài chòi khu vực Trung bộ năm 2025 tại thành phố Đà Nẵng. Đồng thời, trình UBND tỉnh xin chủ trương tổ chức kỷ niệm 20 năm Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (25/11/2005-25/11/2025); phối hợp với UBND phường Quy Nhơn Đông đề xuất nội dung gửi Cục Văn Di sản văn hóa triển khai Dự án Bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống phục vụ phát triển du lịch gắn với xây dựng nông thôn mới. Các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan; văn hóa, văn nghệ, thể thao chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 được tổ chức thành công. Đồng thời, triển khai Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tuyên truyền Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. * Về thể dục, thể thao: Trong tháng 10 năm 2025, ban hành Kế hoạch tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp tiến tới Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Gia Lai lần thứ I năm 2026; tiếp tục hướng dẫn các Hội, Liên đoàn lĩnh vực thể thao trên địa bàn tỉnh hoàn thành các thủ tục đổi tên, hiệp thương chia, tách, sáp nhập, hợp nhất Hội, Liên đoàn sau khi sáp nhập tỉnh; Kế hoạch và Điều lệ Hội đua thuyền độc mộc trên sông Pô Cô tỉnh Gia Lai năm 2025 tranh cúp A Sanh; Kế hoạch tổ chức các hoạt động thể dục thể thao trong chương trình Tuần lễ Hoa Dã Quỳ - Núi lửa Chư Đăng Ya năm 2025; Kế hoạch tổ chức lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thể dục thể thao dành cho cán bộ, công chức, viên chức thể dục thể thao cơ sở tại tỉnh Gia Lai năm 2025. Tiếp tục rà soát tổng thể các chính sách liên quan đến lĩnh vực thể thao đang được áp dụng trên địa bàn tỉnh; hoàn thiện Quy chế quản lý các đội tuyển thể thao tỉnh Gia Lai. Đồng thời, thống nhất danh mục đăng cai tổ chức các giải thể thao quốc gia và quốc tế năm 2026. * Về du lịch: Công tác quản lý và tổ chức các hoạt động du lịch tiếp tục được duy trì thường xuyên. Trong thời gian qua, ngành Du lịch đã tổ chức nhiều hoạt động, sự kiện, lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch. Trình UBND tỉnh ban hành Kế hoạch truyền thông chính sách và quảng bá hình ảnh tỉnh Gia Lai năm 2026 và dự thảo Khung hợp tác truyền thông chính sách và quảng bá hình ảnh tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030. Bên cạnh tổ chức tốt các sự kiện, sản phẩm du lịch mới, ngành du lịch đã tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định trong hoạt động kinh doanh du lịch tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú; kiểm tra hoạt động vận tải khách du lịch và hoạt động của hướng dẫn viên du lịch; tạo hình ảnh về một không gian đẹp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút du khách trong và ngoài nước.f) Tình hình môi trường - Vi phạm môi trường: Trong tháng 10/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 21 vụ vi phạm môi trường, tăng 40% so với cùng kỳ; đã thực hiện xử lý 9 vụ, giảm 52,6% so với cùng kỳ; thu nộp về ngân sách 181,1 triệu đồng, tăng 56,1% so với cùng kỳ; Lũy kế 10 tháng năm 2025, đã phát hiện 148 vụ vi phạm môi trường, giảm 40,6% (- 101 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 112 vụ, giảm 55% (-137 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 1.128,6 triệu đồng, giảm 7,4% (- 90,8 triệu đồng). - Tình hình thiên tai: Trong tháng 10/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ thiệt hại do mưa lớn, làm 02 ngôi nhà bị sập; 21 ngôi nhà bị ngập và tốc mái; 133,9 ha diện tích lúa; 50,8 ha cây trồng hàng năm (cây ngô, mì) bị ngập, đổ ngã. Ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 4,8 tỷ đồng.Tính chung 10 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã xảy ra 67 vụ thiệt hại làm 02 người chết, 4 người mất tích và 3 người bị thương; Thiệt hại về vật chất: 205 căn nhà bị hư hại, 575,2 ha lúa và 54,1 ha hoa màu bị hư hỏng. Ước tổng giá trị thiệt hại 25.381,2 triệu đồng./. [1] Báo cáo số 201/BC-SYT ngày 21/10/2025 về Công tác Y tế tháng 10 năm 2025 (Từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025);[2] Nguồn từ Báo cáo số 2004/BC-SGDĐT ngày 17/10/2025 về Đánh giá tình hình công tác tháng 10 năm 2025 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 11 năm 2025.[3] Nguồn từ Báo cáo số 212/BC-VHTTDL ngày 21/10/2025 Báo cáo Kết quả thực hiện công tác của ngành văn hóa, thể thao và du lịch tháng 10 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 11 năm 2025;
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG, CHỈ SỐ GIÁ VÀNG VÀ CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ THÁNG CHÍN NĂM 2025 CỦA TỈNH GIA LAI
- 01/10/2025 10:45
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Gia Lai tháng 9 năm 2025 tăng 0,2% so tháng trước; tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; tăng 3,5% so với tháng 12 năm trước. Bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 0,2% của CPI tháng Chín so với tháng trước, có 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng; 4 nhóm hàng có chỉ số giá ổn định. Diễn biến cụ thể từng nhóm hàng so với tháng trước như sau: Bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: - Nhóm có chỉ số tăng cao nhất là nhóm giao thông tăng 0,6%, nguyên nhân tăng do sự điều chỉnh giá xăng dầu của Liên Bộ Công thương - Tài chính; - Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 0,3%, tăng chủ yếu điện sinh hoạt tăng 1% do thời tiết nắng nóng người dân sử dụng điện tăng; - Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,3%, tăng chủ yếu do đồ trang sức bằng vàng tăng 7,9% tăng theo giá vàng thị trường; - Nhóm giáo dục tăng 0,2%, nguyên nhân do vào năm học mới đồ dùng học tập, bút viết các loại tăng 0,5%, do nhu cầu mua thêm đồ dùng học tập mới cho học sinh tăng hơn; - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,1%; trong đó, thực phẩm tăng 0,2% tăng chủ yếu ở các mặt hàng sau: thịt gia súc tăng 0,1% do giá lợn hơi tăng nhẹ. Bên cạnh đó, thịt gia cầm tăng 0,9% do nhu cầu tiêu thụ mạnh trong dịp lễ 2/9 và một số người dân vẫn chọn thịt gia cầm để thay thế thịt lợn. Thủy sản tươi sống tăng 0,2%; các loại đậu và hạt tăng 0,4%; rau tươi khô và chế biến tăng 0,1%, quả tươi, chế biến tăng 0,5%...; - Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%, nguyên nhân chủ yếu do rượu bia tăng 0,3%, do chi phí bán ra của đại lý tăng; - Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,1%, do nhu cầu mua sắm cho học sinh nhập học tăng. Bốn nhóm hàng có chỉ số giá ổn định gồm: thiết bị và đồ dùng gia đình; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; hàng hóa và dịch vụ khác. Giá vàng tại địa phương tháng 9 năm 2025 tăng 7,6% so với tháng trước, do tăng giá vàng thế giới tăng. Giá đô la Mỹ bình quân tháng 9 năm 2025 tăng 0,4% so tháng trước./.