Báo cáo KT-XH tháng 11
- 09/12/2025 10:39
BÁO CÁOTình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia LaiTháng 11 và 11 tháng năm 2025 Mười một tháng năm 2025, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của các xung đột địa chính trị tại nhiều khu vực, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gây sức ép tăng chi phí vận chuyển, bảo hiểm hàng hải. Bên cạnh đó, việc Hoa Kỳ duy trì và mở rộng các biện pháp thuế quan đối với một số nhóm hàng nhập khẩu đã tạo ra sự dịch chuyển thương mại toàn cầu, gia tăng rủi ro cạnh tranh và tác động mạnh đến thị trường xuất nhập khẩu của nhiều nền kinh tế. Nền kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự kiến; lạm phát vẫn ở mức cao tại nhiều quốc gia buộc các ngân hàng trung ương tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thắt chặt, gây áp lực lên đầu tư, tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Vào đầu tháng 11 năm 2025, cơn bão Kalmaegi (bão số 13) và mưa lũ đã đổ bộ vào tỉnh, gây thiệt hại nặng nề về cơ sở hạ tầng và nhà cửa của Nhân dân; làm gián đoạn sản xuất ở một số nơi bị mất điện và ngập lụt; hư hỏng một số tàu thuyền và diện tích nuôi trồng thủy sản…Tuy nhiên, toàn tỉnh đã khẩn trương khắc phục hậu quả do cơn bão, lũ gây ra, sớm đưa cuộc sống của người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trở lại bình thường. Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11, 11 tháng năm 2025 với những kết quả như sau: - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11/2025 giảm 5,34% so với tháng trước và tăng 4,67% so với cùng kỳ; luỹ kế 11 tháng năm 2025 tăng 9,32% so với cùng kỳ; - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2025 ước đạt 16.215,1 tỷ đồng, giảm 2,8% so với tháng trước, và tăng 14,5% so với cùng kỳ; luỹ kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 181.891 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ;Mười một - Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2025 ước đạt 4.113,8 triệu USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 3.200,2 triệu USD, tăng 21,0%; nhập khẩu ước đạt 913,6 triệu USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 2.286,6 triệu USD. - Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 11 năm 2025 ước đạt 1.060 nghìn TTQ, giảm 3,5% so với tháng trước, giảm 4,0% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, ước đạt 12.595,3 nghìn TTQ, giảm 5,0% so với cùng kỳ năm trước; - Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng 1,13% so với tháng trước, tăng 5,22% so với cùng kỳ và tăng 4,64% so với năm gốc 2024; Bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 4,03% so với cùng kỳ. - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 11 năm 2025 của tỉnh Gia Lai chịu ảnh hưởng của cơn bão số 13 và đợt ngập lụt cục bộ tại một số xã, phường tại khu vực phía Đông của tỉnh Gia Lai đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất một số diện tích rau, màu...; khu vực phía Tây ảnh hưởng nhẹ nên tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn duy trì ổn định. Tình hình dịch bệnh được kiểm soát, các dự án chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao ngày càng được mở rộng, đa dạng giống nuôi, công tác tái đàn được quan tâm đầu tư. Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào trồng rừng, khai thác gỗ theo kế hoạch. 1.1. Nông nghiệp Đối với lúa vụ Mùa, diện tích gieo trồng tính đến ngày 21/11/2025 đạt 53.756,9 ha, giảm 0,4% (-198 ha) so với cùng kỳ. Diện tích thu hoạch đạt 49.292,9 ha, giảm 0,3% (-141,7 ha) so với cùng kỳ. Tính đến ngày 21/11/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng các loại cây chủ lực, như sau: Cây ngô 46.708,2 ha, tăng 1% (+439,8 ha) so với cùng kỳ; cây lạc 14.088,2 ha, giảm 0,9% (-131,4 ha) so với cùng kỳ; rau các loại 49.594,8 ha, tăng 1,6% (+793,9 ha) so với cùng kỳ; đậu các loại 22.781,1 ha, giảm 1,5% (-358 ha) so với cùng kỳ. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số loại cây(Đến ngày 21/11/2025 so với cùng kỳ) Tình hình chăn nuôi: Tính đến tháng 11/2025, đàn trâu của tỉnh ước đạt 26.762 con, giảm 4,0% (-1.124 con) so với cùng kỳ. Đàn bò ước đạt 800.587 con, tăng 2,6% (+20.366 con) so với cùng kỳ; trong đó, bò sữa ước đạt 14.293 con, tăng 3,3% (+461 con) so với cùng kỳ. Đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) ước đạt 1.674.699 con, tăng 13,9% (+204.131 con) so với cùng kỳ. Đàn gia cầm ước đạt 18.388,4 nghìn con, tăng 8,0% (+1.354,3 nghìn con) so với cùng kỳ; trong đó, đàn gà có 16.021,8 nghìn con, tăng 8,1% (+1.199,5 nghìn con) so với cùng kỳ.Hình 2. Số lượng đầu con gia súc, gia cầm(Tháng 11 năm 2025 so với cùng kỳ) 1.1. Lâm nghiệp Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng 11 năm 2025 tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả rừng trồng bằng biện pháp thâm canh rừng trồng sản xuất, sử dụng cây giống nuôi cấy mô, cây giống lâm nghiệp mới, chất lượng cao phục vụ trồng rừng cây gỗ lớn. Trong tháng 11/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung được 2.952,6 ha, giảm 29,1% (-1.210,6 ha) so với cùng kỳ, lũy kế từ đầu năm trồng được 19.262,9 ha, giảm 14,1% (-3.154,9 ha) so với cùng kỳ. Ước tính tháng 11/2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 260.424 m³, tăng 16,9% (+37.701 m³) so với cùng kỳ, lũy kế từ đầu năm sản lượng gỗ ước đạt 1.960.939,4 m³, tăng 5% (+94.139,4 m³) so với cùng kỳ, chủ yếu là các loại gỗ nguyên liệu dùng cho sản xuất và nhu cầu thiết yếu của hộ gia đình. Về tình hình cháy rừng: Trong tháng 11/2025 trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ việc. Lũy kế từ năm đến nay, xảy ra 02 vụ cháy rừng trồng, giảm 50% (-2 vụ) so với cùng kỳ, diện tích rừng bị thiệt hại là 6,2 ha, giảm 97,5% (-246 ha) so với cùng kỳ. Về vi phạm phá rừng: Trong tháng 11/2025, phát hiện và lập biên bản 6 vụ vi phạm, diện tích thiệt hại 18,9 ha, giảm 10,0% (-2,1 ha) so với cùng kỳ. Tính từ đầu năm đến nay, phát hiện và lập biên bản 56 vụ vi phạm phá rừng, diện tích thiệt hại là 19,9 ha; giảm 67,3% (-40,9 ha) so với cùng kỳ. Sau bão13, một số diện tích keo chưa đến kỳ thu hoạch bị gãy, ngã, người dân phải thu hoạch sớm.Hình 3. Tình hình lâm nghiệp(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) 1.1. Thủy sản Hoạt động nuôi trồng thủy sản đang vào cuối vụ, diện tích tôm nuôi nước lợ phần lớn đã thu hoạch. Một số diện tích nuôi tôm nước lợ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất; người nuôi áp dụng các biện pháp quản lý môi trường để phòng bệnh trong thời điểm thời tiết biến động. Trong tháng tăng cường và hướng dẫn các hộ nuôi các biện pháp chủ động phòng chống dịch bệnh, định kỳ kiểm tra, giám sát các cơ sở nuôi để tránh dịch bệnh lây lan. Hướng dẫn các hộ nuôi chọn các loại giống chất lượng, ít nhiễm bệnh; ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ cao trong quá trình nuôi đạt năng suất cao, giảm thiểu các chi phí nuôi. Nuôi tôm hùm thương phẩm, mực lá có giá trị kinh tế cao được chú trọng quan tâm. Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 11/2025 ước đạt 790,6 tấn, giảm 6,5 % (-54,8 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng sản lượng ước đạt 18.053,6 tấn, tăng 0,2 % (+40,8 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng thủy sản giảm do ảnh hưởng của bão, lũ trong tháng gây nên. Trong đó sản lượng cá ước đạt 634,4 tấn, giảm 4,7 % (-31,1 tấn), cộng dồn 11 tháng sản lượng ước đạt 8.192,4 tấn, tăng 1,4% (+114,4 tấn); sản lượng tôm ước đạt 89,2 tấn, giảm 7,8% (-7,5 tấn), cộng dồn 11 tháng sản lượng ước đạt 8.267,1 tấn, giảm 4,2% (-359,9 tấn). Sản lượng thủy sản khác ước đạt 67 tấn, giảm 19,5 % (-16,2 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng ước đạt 1.594,1 tấn, tăng 21,9 % (+286,3 tấn) so với cùng kỳ; nguyên nhân tăng cao do nhiều hộ chuyển sang nuôi ốc hương và hàu trên địa bàn các xã. Sản lượng khai thác thủy sản biển tháng 11/2025 ước đạt 20.115 tấn, giảm 1,1% (-233 tấn) so với cùng kỳ; cộng dồn 11 tháng sản lượng ước đạt 264.892,5 tấn, tăng 2,5% (+6.453,8 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cá các loại tháng 11 ước đạt 18.542,4 tấn, giảm 0,8% (-156,1 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng sản lượng cá ước đạt 239.944,8 tấn, tăng 2,3% (+5.314,6 tấn) so với cùng kỳ; tôm tháng 11 ước đạt 98,1 tấn, giảm 3% (-3 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng sản lượng tôm ước đạt 1.310,2 tấn, tăng 17,8% (+196,9 tấn) so với cùng kỳ và thủy sản khác ước đạt 1.918,4 tấn, giảm 3,1% (-62 tấn) so với cùng kỳ, cộng dồn 11 tháng sản lượng thủy sản khác ước đạt 28.066,6 tấn, tăng 3,6% (+985,6 tấn) so với cùng kỳ.Hình 4. Sản lượng khai thác thủy sản biển chia theo loại con(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)1. Sản xuất công nghiệpTrong thời gian vừa qua, tỉnh Gia Lai đã tích cực triển khai nhiều giải pháp tạo bước chuyển mạnh mẽ trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Tỉnh tiếp tục tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; rà soát và hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án, tạo mọi điều kiện thuận lợi đối với các dự án trọng điểm đảm bảo tiến độ theo kế hoạch. Với những nỗ lực đó, kết quả ghi nhận trong 11 tháng năm 2025 chỉ số IIP tăng 9,32% so với cùng kỳ, phản ánh sự tăng trưởng ổn định và phục hồi của ngành công nghiệp địa phương. 2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Trong tháng 11/2025, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh (chủ yếu các vùng ven biển của phía Đông tỉnh) chịu ảnh hưởng tiêu cực của bão số 13 và các đợt mưa lũ diễn ra trong những ngày gần đây, làm ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất và lưu thông hàng hóa của nhiều doanh nghiệp. So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 năm 2025 giảm 5,34%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,49%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,7%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 13,65%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 0,08%. So với cùng kỳ, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 năm 2024 tăng 4,67%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,18%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 37,2%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,55%. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là việc Hoa Kỳ áp dụng chính sách thuế quan mới đối với một số nhóm hàng, cùng với tác động của bão số 13 và mưa lũ trên địa bàn tỉnh đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất công nghiệp của Gia Lai trong thời gian qua. Tuy nhiên, ngành công nghiệp của tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực với chỉ số sản xuất 11 tháng năm 2025 tăng 9,32% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện là động lực chính đóng góp vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành.Hình 5. Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,52%, kéo giảm tốc độ tăng trưởng chung. Nguyên nhân do các mỏ khoáng sản titan đang dần cạn kiệt, doanh nghiệp hết giấy phép khai thác đã chuyển sang các ngành nghề kinh doanh khác. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,47%. Trong đó, nhóm ngành tăng cao như: Chế biến thực phẩm; Sản xuất trang phục; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác. Tình hình sản xuất ở một số ngành chủ yếu của tỉnh: - Ngành chế biến thực phẩm tăng 8,67% do một số sản phẩm tăng như: Thức ăn gia súc tăng 7,76%; thức ăn gia cầm tăng 12,21%; tôm đông lạnh tăng 161,64%; Sản phẩm sữa và kem tăng 11,14%. Ngành mía đường Gia Lai đang phục hồi mạnh nhờ Chính phủ và Bộ Công Thương duy trì biện pháp phòng vệ thương mại, giữ giá đường ổn định, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng đầu tư, góp phần thúc đẩy sản lượng đường RS tăng cao 19,95% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm sản lượng như: Tinh bột sắn giảm 5,35% do giá sắn tươi giảm, người dân chuyển đổi cây trồng sang trồng mía, nguồn nguyên liệu đầu vào giảm nên lượng sản xuất giảm; sản lượng đường RE giảm 3,61%; nước cam, chanh, quít, bưởi tươi giảm 14,05% do giá chanh dây không ổn định. - Ngành sản xuất trang phục tăng 12,91%, phản ánh sự ổn định và phát triển của ngành may mặc trong tỉnh. Các doanh nghiệp chủ yếu của ngành đã ổn định sản xuất và nhận được đơn hàng đến hết năm 2025; đồng thời, cùng với các dự án đi vào hoạt động năm 2025 đóng góp giá trị sản xuất mới và xuất khẩu tăng, góp phần tăng chỉ số sản xuất ngành may mặc. - Ngành sản xuất thuốc tăng nhẹ 0,58% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do Công ty Kabi đang triển khai bổ sung thêm một dây chuyền sản xuất mới nhằm nâng công suất hoạt động. Tuy nhiên, để đảm bảo độ vô khuẩn tuyệt đối của sản phẩm dung dịch truyền, trong quá trình lắp đặt dây chuyền mới, các dây chuyền hiện tại cũng phải tạm ngừng sản xuất, dẫn đến sản lượng chung của nhà máy và toàn ngành tăng chậm. Ngoài ra, do ảnh hưởng bão, lũ, nên tiến độ lắp đặt máy móc bị kéo dài so với kế hoạch, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. - Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 31,87%, đóng góp chính từ sản phẩm gạch ốp lát tăng rất mạnh (+201,96%). - Ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 0,32%, đà tăng trưởng của ngành đang có dấu hiệu chững lại do nhu cầu tiêu thụ suy giảm, chịu ảnh hưởng từ những biến động bất ổn của thị trường cả trong nước và quốc tế, nhất là đối với sản phẩm tấm lợp kim loại (-17,99%). - Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 0,71% so với với cùng kỳ. Nguyên nhân do ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nhiều khó khăn do ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách thuế thương mại của Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam, khiến đơn hàng xuất khẩu giảm, áp lực cạnh tranh tăng và doanh thu của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong ngành còn chịu tác động từ thiên tai, bão lũ trong tháng 11/2025, gây ngập lụt một số nhà xưởng, hư hỏng nguyên liệu và gián đoạn quá trình sản xuất, dẫn đến năng suất lao động giảm và tiến độ giao hàng bị chậm trễ. Ngoài ra, một số ngành trong lĩnh vực chế biến, chế tạo có mức giảm so với cùng kỳ, đáng chú ý là ngành sản xuất hóa chất giảm 27,92%, chủ yếu do Công ty XNK Thành Hưng chuyển dần hoạt động từ sản xuất sang kinh doanh, mua bán phân bón, làm sản lượng sản xuất toàn ngành sụt giảm. Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 9,15%; Dệt giảm 7,11%; In ấn giảm 2,63%. Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 19,57%. Sản lượng, ngành điện tăng trưởng mạnh, chủ yếu nhờ vào sản lượng thủy điện, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng ngành, tăng 30,44% so với cùng kỳ. Ngoài ra, mùa mưa kéo dài, lượng nước dồi dào giúp các hồ chứa tích trữ tốt, nâng cao hiệu suất phát điện. Điện gió cũng ghi nhận mức tăng 8,6% nhờ điều kiện gió thuận lợi. Riêng, điện mặt trời giảm nhẹ 1,55% do thời tiết và sự cắt giảm huy động điện mặt trời trong một số thời điểm. Tổng thể, ngành điện tiếp tục duy trì vai trò chủ lực trong phát triển công nghiệp và đảm bảo nguồn năng lượng trên địa bàn. Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,91%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 3,43%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 34,62%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 14,47%, chủ yếu tăng mạnh ngành thoát nước và xử lý nước thải, tăng 34,62% và hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu tăng 14,47%. 2.2. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động tháng 11/2025 của tỉnh giảm 0,36% so với tháng trước, do ảnh hưởng của bão, lũ, một số doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất để khắc phục hậu quả thiên tai. Trong đó, ngành Khai khoáng tăng 0,28%; Công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,4%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 0,11%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ổn định.Chỉ số sử dụng lao động tháng 11/2025 giảm 1,23% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành Khai khoáng giảm 0,55%; Công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,95%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 8,31%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,45%. Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ chỉ số sử dụng lao động tháng 11/2025 của khối doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 4,24%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 11,46%.1. Đầu tư Trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động, tỉnh Gia Lai tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược. Đồng thời, đây là năm đầu tiên tỉnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thay đổi căn bản phương thức phân cấp, giao vốn và tổ chức thực hiện đầu tư công. Để bảo đảm tính liên tục và phù hợp với mô hình mới, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1922/QĐ-UBND ngày 25/9/2025 về điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công năm 2025 tỉnh Gia Lai; ban hành Quyết định số 2231/QĐ-UBND ngày 15/10/2025 về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công năm 2025 cấp huyện vào kế hoạch đầu tư công năm 2025 của cấp xã. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2025 ước đạt 1.777,5 tỷ đồng, tăng 11,7% so với tháng trước và tăng 32,5% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 13.889,2 tỷ đồng, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm 2024, đạt 73,3% so kế hoạch năm, trong đó: - Vốn Ngân sách cấp tỉnh đạt 9.915,7 tỷ đồng, tăng 28,2%, đạt 71,9% so với kế hoạch năm; - Vốn Ngân sách cấp xã đạt 3.973,5 tỷ đồng, tăng 48,3%, đạt 77,1% so với kế hoạch năm.Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Nhìn chung, nguồn vốn do địa phương quản lý ước thực hiện 11 tháng năm 2025 đạt mức giải ngân khá, trong đó vốn phân cấp cho xã, phường tiếp tục là điểm sáng của năm 2025. Tiến độ thực hiện 11 tháng năm 2025 duy trì xu hướng tích cực nhờ sự chủ động của các chủ đầu tư trong tổ chức thi công và hoàn thiện thủ tục thanh toán. Tình hình thực hiện một số công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh Trong 11 tháng năm 2025, nhiều dự án trọng điểm tiếp tục được triển khai, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. - Lĩnh vực giao thông: Đường ven biển đoạn Cát Tiến – Diêm Vân, đường ven biển (ĐT.639) đoạn từ Quốc lộ 1D đến Quốc lộ 19 mới, đường Mang Yang – Ia Pa, đường tỉnh 669, đường hành lang kinh tế phía Đông (đường tránh Quốc lộ 19) và đường từ phường Pleiku đi trung tâm xã Đak Đoa đang tổ chức thi công theo đúng kế hoạch được giao. Bên cạnh đó, các dự án đề xuất đầu tư năm 2025 gồm 07 dự án trọng điểm có tổng mức đầu tư lớn, mang tính kết nối vùng và phát triển hạ tầng chiến lược của tỉnh, cụ thể: Tuyến đường bộ cao tốc Quy Nhơn – Pleiku; Đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng hàng không Phù Cát; Tuyến đường kết nối từ cao tốc Bắc – Nam về KCN Phù Mỹ và bến cảng Phù Mỹ; Tuyến đường nối từ Quốc lộ 1 đến đường ven biển ĐT.639 kết nối cảng Đề Gi; Tuyến đường kết nối từ Khu đô thị Khoa học và Giáo dục Quy Hòa đến Khu đô thị Long Vân; Dự án Phát triển tích hợp thích ứng – tỉnh Bình Định (vốn vay WB); Cầu Thị Nại 2. - Lĩnh vực y tế – giáo dục: Khu xạ trị và trang thiết bị Bệnh viện Đa khoa tỉnh; Phát triển mạng lưới y tế cơ sở vùng khó khăn; Các trường học đạt chuẩn quốc gia năm 2025. - Đô thị – hạ tầng tái định cư: Các khu đô thị và tái định cư tiếp tục ghi nhận chuyển biến mạnh: Khu dân cư đường Nguyễn Văn Linh; Khu dân cư phía Bắc Nhà ở xã hội Nhơn Bình; Khu dân cư và tái định cư Vĩnh Hội. 4. Hoạt động Ngân hàng Tính đến cuối tháng 11/2025, tổng số dư huy động vốn của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai ước đạt 206.812 tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ và tăng 13,7% so với tháng 12 năm 2024. Tổng dư nợ cho vay tính đến 30/11/2025 ước đạt 247.212 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ và tăng 4,5% so với tháng 12 năm 2024. Ước đến 30/11/2025 nợ xấu trên địa bàn tỉnh chiếm 1,67% so với tổng dư nợ.Hình 7. Hoạt động ngân hàng(Đến 31/11/2025 so với cùng kỳ)5. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong tháng 11/2025, Gia Lai chịu ảnh hưởng của bão, lũ, ngập lụt cục bộ tại một số xã, phường trên địa bàn tỉnh (Tuy Phước Bắc, Tuy Phước Đông, Quy Nhơn Bắc, Quy Nhơn Đông, Ayun Pa, Krông Pa, Ia Pa, Phú Thiện, Chư Sê…). Mưa lớn kéo dài làm nhiều khu vực bị chia cắt, đường giao thông liên xã bị sạt lở. Một số vùng thấp trũng bị ngập sâu, nhiều hộ dân phải sơ tán. Lưu thông hàng hóa, vận tải hành khách và hoạt động du lịch bị ảnh hưởng trong một số ngày mưa bão. Tuy nhiên nhu cầu mua sắm, tích trữ lương thực có xu hướng tăng, do đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tỉnh Gia Lai tháng 11/2025 ước đạt 16.215,1 tỷ đồng, giảm 2,8% so với tháng trước do ảnh hưởng của bão lũ, nhưng tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 181.891 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ, trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 136.197,3 tỷ đồng, tăng 12,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 26.831,7 tỷ đồng, tăng 17,2%; du lịch lữ hành ước đạt 1.155,2 tỷ đồng, tăng 16,8%; dịch vụ khác ước đạt 17.706,8 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 12.886,1 tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước, và tăng mạnh 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động bán lẻ ở một số ngành hàng lương thực, thực phẩm, chăn mền… có xu hướng tăng lên sau bão, lũ để hỗ trợ hoạt động cứu trợ không chỉ tại Bình Định (cũ) mà còn cả ở tỉnh Phú Yên (cũ); các ngành hàng vật liệu xây dựng cũng có xu hướng tăng do nhu cầu sửa chữa nhà cửa sau bão, lũ. Hình 8. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hình 8. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ đạt 136.197,3 tỷ đồng, chiếm 74,9% trong doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, tăng 12,1% so với cùng kỳ. Như vậy, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và sản xuất phục hồi ổn định. Cơ cấu bán lẻ chuyển biến theo hướng hiện đại, phản ánh sức mua của thị trường nội địa ổn định và niềm tin tiêu dùng được củng cố. Các nhóm hàng tăng trưởng cao như: - Đá quý, kim loại và sản phẩm tháng 11/2025 ước đạt 270,5 tỷ đồng, tăng 6,9% so với tháng trước, tăng 43,9% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 2.402,6 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ, chủ yếu do diễn biến giá vàng thế giới tăng cao ảnh hưởng tới giá vàng trong nước trong thời gian tương đối dài; - Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tháng 11/2025 ước đạt 1.382,7 tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước, tăng 34,7% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 13.521,0 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu tiêu dùng máy phát điện, điện máy và sạc dự phòng tăng cao; - Hàng gỗ và vật liệu xây dựng tháng 11/2025 ước đạt 1.700,8 tỷ đồng, tăng 4,7% so với tháng trước, tăng 20,7% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 15.700,1 tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ; - Lương thực, thực phẩm tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm khoảng 40% tổng doanh thu bán lẻ, tháng 11/2025 ước đạt 5.135,9 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước, tăng 19,3% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 doanh thu ước đạt 56.756,5 tăng 13,0% so với cùng kỳ năm trước; - Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tháng 11/2025 ước đạt 245,5 tỷ đồng, tăng 3,8% so với tháng trước, tăng 12,6% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 2.428,1 tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nhu cầu dịch vụ sửa chữa, thay thế phụ tùng xe sau khắc phục do bị ảnh hưởng cơn bão số 13 và ngập lụt; - Hàng may mặc tháng 11/2025 ước đạt 609,2 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước, tăng 8,6% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 6.564,9 tỷ đồng, tăng 8,1%; - Xăng, dầu các loại tháng 11/2025 ước đạt 1.863,0 tỷ đồng, giảm 3,1% so với tháng trước nhưng tăng 14,5% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 21.185,0 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá năng lượng trong nước điều chỉnh giảm và nhu cầu vận chuyển, sản xuất bị ảnh hưởng trong thời gian bị bão, ngập lụt; - Vật phẩm văn hóa – giáo dục tháng 11/2025 ước đạt 106,9 tỷ đồng, giảm 0,6% so với tháng trước, tăng 6,9% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 1.184,0 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ. Hình 9. Doanh thu nhóm ngành bán lẻ hàng hóa(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Tháng 11/2025 tỉnh Gia Lai trực tiếp hứng chịu cơn bão 13, mưa lũ lụt; Thời tiết không thuận lợi cho du lịch nhất là du lịch biển đảo; do đó, hầu hết các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều giảm doanh thu so với tháng trước (tuy nhiên tháng 11 không nằm trong mùa cao điểm khách du lịch ở Gia Lai). Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 11/2025 ước đạt 1.787,2 tỷ đồng, giảm 19,1% so với tháng trước và giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 26.831,7 tỷ đồng, chiếm 14,8% trong doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, tăng 17,2% so với cùng kỳ. Cụ thể: - Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 11/2025 ước đạt 148,5 tỷ đồng, giảm 35,4% so với tháng trước và giảm 17,0% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 3.142,5 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 11/2025 ước đạt 1.638,7 tỷ đồng, giảm 17,3% so với tháng trước và tăng 1,2% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 23.689,2 tỷ đồng, tăng 17,5% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 11/2025 ước đạt 41,6 tỷ đồng, giảm 47,8% so với tháng trước và giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng đạt 1.155,2 tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 11/2025 ước đạt 1.500,2 tỷ đồng, giảm 7,7% so với tháng trước, nhưng tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025 ước đạt 17.706,8 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ. Cụ thể tình hình một số ngành dịch vụ như: - Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản tháng 11/2025 ước đạt 351,4 tỷ đồng, giảm 21% so với tháng trước và giảm 6,6% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, doanh thu kinh doanh bất động sản đạt 5.204,3 tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 190,6 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 5,9% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, doanh thu dịch vụ hành chính và hỗ trợ ước đạt 2.059,1 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giáo dục đào tạo ước đạt 76,6 tỷ đồng, giảm 11,5% so với tháng trước, tăng 2,2% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 841,3 tỷ đồng, tăng 14,5% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ y tế ước đạt 186,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước, tăng 14,3% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, doanh thu dịch vụ y tế ước đạt 1.859,3 tỷ đồng, tăng 16,0% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 284,4 tỷ đồng, giảm 13,6% so với tháng trước và tăng 1,3% so với cùng kỳ; Tính chung 11 tháng, dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 3.526,7 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 410,5 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước, tăng 15,7% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng, doanh thu dịch vụ khác đạt 4.216,1 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ.5.1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa[1] Mười một tháng năm 2025, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của các xung đột địa chính trị tại nhiều khu vực, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gây sức ép tăng chi phí vận chuyển, bảo hiểm hàng hải. Đối với Việt Nam, điều này gây áp lực lên doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, cà phê, gỗ, cao su - là các mặt hàng chủ lực của Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng. Nhìn chung, dù kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều biến động, song nhờ chính sách điều hành linh hoạt của Chính phủ, sự chủ động của doanh nghiệp, hoạt động thương mại - đầu tư của tỉnh Gia Lai vẫn được duy trì ổn định và tăng trưởng tích cực trong 11 tháng năm 2025. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Gia Lai tháng 11/2025 đạt 295 triệu USD, giảm 10,4% so với tháng trước và giảm 7,6% so với cùng kỳ; cụ thể, xuất khẩu ước đạt 210,2 triệu USD, giảm 9,8% so với tháng trước và giảm 11,6% so với cùng kỳ; nhập khẩu ước đạt 84,8 triệu USD, giảm 11,9% so với tháng trước, nhưng tăng 3,9% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Gia Lai tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng ấn tượng, với tổng kim ngạch ước đạt 4.113,8 triệu USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 3.200,2 triệu USD, tăng 21% và tăng 11,1% so với số kế hoạch đề ra (kế hoạch năm 2025 xuất khẩu ước 2.880 triệu USD). Nhập khẩu ước đạt 913,6 triệu USD, tăng 14,2% so cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 2.286,6 triệu USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ. Hình 10. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tỉnh Gia Lai(11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) [1] Thống kê tỉnh Gia Lai thu thập thông tin, tổng hợp và báo cáo UBND tỉnh về hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông theo Quyết định số 2928/QĐ-UBND ngày 15/8/2024 của UBND tỉnh Bình Định. Đối với Gia Lai Tây, Thống kê tỉnh Gia Lai không thực hiện cuộc điều tra này, nên số liệu hàng hóa xuất nhập khẩu thu thập, tổng hợp từ báo cáo các Chi cục Hải quan khu vực.Cụ thể tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 11 và 11 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Gia Lai như sau: &*** Phía Gia Lai Đông Tháng 11 năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đối với Gia Lai Đông ước đạt 185,1 triệu USD, giảm 10,5% so với tháng trước, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đối với Gia Lai Đông ước đạt 2.111,7 triệu USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước. Hình 11. Xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Xuất khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông, tháng 11 năm 2025, xuất khẩu ước đạt 135,1 triệu USD, giảm 11,8% so tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 7% (cùng kỳ đạt 145,2 triệu USD). Mười một tháng năm 2025, xuất khẩu ước đạt 1.622,1 triệu USD, tăng 3,0%; trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 29,9 triệu USD, giảm 37,7%; kinh tế tư nhân ước đạt 1.319,7 triệu USD, tăng 5,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 272,5 triệu USD, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Gia Lai Đông bao gồm: Gỗ, sản phẩm gỗ, hàng dệt may, hàng thủy sản, sản phẩm từ chất dẻo. Ngoài ra, một số mặt hàng khác cũng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu như; gạo, sắn và các sản phẩm từ sắn… Mười một tháng năm 2025, các nhóm hàng xuất khẩu tăng/giảm so với cùng kỳ như: Nhóm thủy sản với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 137,8 triệu USD, tăng 13,7%; Sản phẩm gỗ ước đạt 438,3 triệu USD, tăng 9,4%; Hàng dệt may xuất khẩu ước đạt 352,2 triệu USD, tăng 13,1%... Ngược lại cũng có một số nhóm ngành hàng giảm, cụ thể: Nhóm hàng gỗ ước đạt 381,4 triệu USD, giảm 0,5%; Sản phẩm từ chất dẻo (sản phẩm chính là bàn ghế nhựa giả mây) ước đạt 171,2 triệu USD, giảm 9,6%; Sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 66,2 triệu USD, giảm 9,5%; Mặt hàng gạo xuất khẩu ước đạt 29,9 triệu USD, giảm 37,7% so với cùng kỳ. Hình 12. Sản phẩm xuất khẩu hàng hóa chủ yếu phía Gia Lai Đông (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Thị trường xuất khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2025 có tốc độ tăng trưởng tích cực, với các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc. Mười một tháng năm 2025, xuất khẩu trực tiếp ước đạt 1.620,4 triệu USD qua 5 Châu lục, cụ thể: - Châu Mỹ ước đạt 651,6 triệu USD (với 25 nước), tăng 10,1% so với cùng kỳ, chiếm 40,3% trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa trực tiếp của Gia Lai Đông; cụ thể, thị trường Mỹ ước đạt 604,8 triệu USD, tăng 12,1%; chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 37,3%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh; một số mặt hàng xuất khẩu qua thị trường Mỹ như: Sản phẩm gỗ ước đạt 232,8 triệu USD, tăng 15,4%; Hàng dệt, may ước đạt 219,4 triệu USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ; - Châu Á ước đạt 564,6 triệu USD, giảm 6,0% so với cùng kỳ, chiếm 34,8%, Châu Á chủ yếu xuất khẩu qua các thị trường như; Nhật Bản ước đạt 305 triệu USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ, kế đến là thị trường Trung Quốc ước đạt 149,1 triệu USD, giảm 30% so với cùng kỳ; thị trường Philippines ước đạt 30,4 triệu USD, giảm 38,4%, xuất khẩu qua thị trường này chủ yếu là mặt hàng gạo ước đạt 29,9 triệu USD, về trị giá giảm 37,7%, về sản lượng giảm 23,7% so với cùng kỳ; nguyên nhân chính khiến xuất khẩu gạo sang Philippines giảm trong 11 tháng năm 2025 là do Philippines tạm dừng nhập khẩu để bảo vệ nông dân trong nước, đồng thời sản lượng lúa gạo nội địa của họ đạt kỷ lục. Ngoài ra, giá gạo thế giới giảm do nguồn cung dồi dào từ nhiều quốc gia và nhu cầu tiêu thụ yếu cũng gây áp lực lên gạo Việt Nam cũng như xuất khẩu gạo của tỉnh;- Châu Âu ước đạt 347,1 triệu USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ, chiếm 21,4%, xuất khẩu chủ yếu qua các thị trường như; Đức, Anh, Hà Lan và Bỉ; các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm từ chất dẻo, sản phẩm gỗ, hàng dệt may; - Châu Đại Dương ước đạt 37,5 triệu USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ, chiếm 2,3%, xuất khẩu chủ yếu qua các thị trường New Zealand và Australia; - Châu Phi ước đạt 19,6 triệu USD, tăng 67,1% so với cùng kỳ, chiếm 1,2%, mặt hàng xuất khẩu qua châu lục này chủ yếu là gỗ ước đạt 10,6 triệu USD, tăng 143,9% so với cùng kỳ. Hình 13. Thị trường xuất khẩu hàng hóa trực tiếp phía Gia Lai Đông (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Tình hình nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông, tháng 11 năm 2025 nhập khẩu ước đạt 50 triệu USD, giảm 7% so với tháng trước, tăng 13,8% so với cùng kỳ (cùng kỳ đạt 44 triệu USD). Mười một tháng năm 2025, nhập khẩu ước đạt 489,6 triệu USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ, trong đó: kinh tế tư nhân ước đạt 338,1 triệu USD, tăng 14%, chiếm 69,1% kim ngạch nhập khẩu; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 151,5 triệu USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ, chiếm 30,9% kim ngạch nhập khẩu. Trong các nhóm hàng hóa xuất khẩu chủ lực như: nhóm hàng gỗ; sản phẩm gỗ; hàng dệt, may và nhóm hàng thủy sản tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu, khẳng định vai trò trụ cột trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh; cụ thể, Nguyên liệu dùng cho chế biến thủy sản ước đạt 97,9 triệu USD, tăng 27%; Vải các loại ước đạt 99,1 triệu USD, tăng 37,5%; Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày ước đạt 104,4 triệu USD, tăng 8,7%; Máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng ước đạt 59,1 triệu USD, tăng 33,3%... Bên cạnh các nhóm hàng tăng cũng có một số nhóm ngành hàng giảm như: Nguyên phụ liệu dược phẩm ước đạt 14,1 triệu USD, giảm 20,1%; Gỗ và sản phẩm từ gỗ ước đạt 29,5 triệu USD, giảm 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2025: Mười một tháng năm 2025, nhập khẩu trực tiếp ước đạt 489,6 triệu USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ, nhập khẩu từ 5 châu lục, cụ thể: Châu Á ước đạt 392,5 triệu USD, tăng 21,3%, chiếm 80%; Châu Âu ước đạt 32,6 triệu USD, tăng 39,7%, chiếm 6,7%; Châu Mỹ ước đạt 44,4 triệu USD, giảm 15,1%, chiếm 9,1%; Châu Đại Dương ước đạt 7,2 triệu USD, giảm 21,4%, chiếm 1,5%; Châu Phi ước đạt 12,9 triệu USD, tăng 76%, chiếm 2,7% so với kim ngạch nhập khẩu trực tiếp. * Phía Gia Lai Tây Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 109,8 triệu USD, giảm 10,1% so với tháng trước và giảm 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 2.002,1 triệu USD, tăng 37,7% so với cùng kỳ, cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 1.154,1 triệu USD. - Kim ngạch xuất khẩu tháng 11 năm 2025 ước thực hiện 75,1 triệu USD, giảm 6,0% so với tháng trước và giảm 18,9% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, xuất khẩu ước đạt 1.578,1 triệu USD, tăng 47,6% so với cùng kỳ. - Kim ngạch nhập khẩu tháng 11 năm 2025 ước thực hiện 34,7 triệu USD, giảm 18,0% so với tháng trước và giảm 7,7% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, KNNK ước thực hiện 424,0 triệu USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ. Hình 14. Xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Tây (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)5.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Trong tháng 11, một số tỉnh bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 13 và trận ngập lụt cục bộ tạo ra một cú sốc lên cả nguồn cung hàng hoá (đặc biệt nông sản, thực phẩm) lẫn hạ tầng cung ứng (giao thông, phân phối, logistics, điện…) - từ đó ảnh hưởng đến giá cả tiêu dùng nói chung. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng 1,13% so với tháng trước, tăng 5,22% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,64% so với kỳ gốc năm 2024. Bình quân 11 tháng năm 2025, CPI tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước.Hình 15. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 và bình quân 11 tháng năm 2025 Tháng 11 so với tháng trước, 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều có xu hướng tăng, đó là: tăng cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,35%, nguyên nhân do tâm lý “cần có dự trữ trong các ngày mưa, bão” làm nhu cầu tăng đột biến”: Sau bão,lũ, người dân có xu hướng mua dự trữ lương thực, thực phẩm… đẩy cầu tăng, góp phần làm giá tăng, thêm vào đó gián đoạn sản xuất và thu hoạch nông sản dẫn đến thiếu hụt nguồn cung thực phẩm: rau, củ, quả, một số lương thực, thực phẩm tươi dễ hỏng trong điều kiện mưa lũ nên giá thực phẩm tăng mạnh; nhóm giao thông tăng 1,36%; nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 0,65%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,25%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,14%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,10% và nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%. nhóm giáo dục tăng 0,01%. Tháng 11 so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng 5,22% so với cùng kỳ, có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tăng giá cụ thể: Tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 20,98%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 10,85%; kế tiếp nhóm giáo dục tăng 7,29%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,40%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,97%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,45%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,22%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35% và nhóm giao thông tăng 1,17%. Ngược lại có 1 nhóm giảm: nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,3%. Bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09/11 nhóm hàng tăng giá, 02/11 nhóm hàng giảm giá, cụ thể: (1) Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,37%, trong đó: Thực phẩm tăng 2,64%, chủ yếu do giá thịt lợn, rau củ và thủy hải sản tăng nhẹ trở lại. Ăn uống ngoài gia đình tăng 2,41%, nhóm này tác động tăng đến CPI chung. (2) Đồ uống và thuốc lá tăng 0,91%, giá các mặt hàng này ổn định, chỉ tăng nhẹ do chi phí vận chuyển và nguyên liệu đầu vào tăng, nhưng được bù lại bởi cạnh tranh thị trường và sức mua chưa cao. (3) May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,46%, nhóm này tăng theo yếu tố mùa vụ, đặc biệt trong tháng 11/2025 xảy ra bão lụt làm tăng nhu cầu may mặc, giày dép tăng cao. (4) Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,97%, đây là một trong những nhóm tăng mạnh nhất, nguyên nhân chủ yếu do: Giá điện sinh hoạt được điều chỉnh tăng theo lộ trình. Giá vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép) tăng trở lại do nhu cầu đầu tư công và thị trường xây dựng hồi phục xây dựng và sửa chữa sau bão lụt. Giá nước sạch và dịch vụ sửa chữa nhà ở cũng tăng do chi phí đầu vào và nhân công cao hơn. (5) Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,19%, giá hàng gia dụng, thiết bị điện tử tăng do tỷ giá USD tăng làm giá nhập khẩu một số mặt hàng điện máy, điện lạnh tăng nhẹ. (6) Thuốc và dịch vụ y tế tăng 23,37%, là nhóm có mức tăng cao nhất, chủ yếu do: Nhà nước điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí. Giá thuốc tân dược nhập khẩu tăng theo biến động tỷ giá và giá nguyên liệu dược thế giới. (7) Giao thông giảm 2,47%, giảm mạnh so với cùng kỳ, do: Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm theo xu hướng giá thế giới; đồng thời, nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách ổn định, không có đột biến tăng giá. Nhóm này là yếu tố chính giúp kiềm chế CPI chung, giảm áp lực lạm phát. (8) Bưu chính, viễn thông giảm 0,5%, tiếp tục xu hướng giảm nhẹ do cạnh tranh mạnh giữa các nhà mạng, gói cước giảm, khuyến mãi nhiều. (9) Giáo dục tăng 6,2%, riêng dịch vụ giáo dục tăng 6,84%, đóng góp đáng kể vào CPI chung trong tháng 9 và tháng 10 năm 2025, thêm vào đó sau đợt lụt ngập cục bộ, nhu cầu mua sắm trang thiết bị và văn phòng phẩm ngành giáo dục tăng cao. (10) Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35%, tăng nhẹ do nhu cầu du lịch, vui chơi, giải trí, tổ chức sự kiện tăng vào mùa cao điểm cuối năm. (11) Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,0%, tăng do chi phí dịch vụ cá nhân, cắt tóc, làm đẹp, đồ dùng sinh hoạt nhỏ lẻ tăng theo thu nhập và sức mua.Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Giá vàng thế giới tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị kéo dài, xung đột tại một số khu vực và xu hướng nắm giữ tài sản an toàn của các nhà đầu tư tăng cao. Đồng USD biến động mạnh, lãi suất thực tại nhiều nền kinh tế lớn giảm khiến nhà đầu tư chuyển hướng sang đầu tư vàng. Tháng 11 năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 2,14% so với tháng trước; tăng 63,05% so với cùng kỳ và bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 48,72% so với bình quân cùng kỳ. Chỉ số Đô la Mỹ tháng 11/2025 giảm 0,04% so với tháng trước, tăng 3,49% so với cùng kỳ năm 2024. Bình quân 11 tháng năm 2025, chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 3,90% so với cùng kỳ.Hình 16. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ(tháng 11 và bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)5.4. Vận tải hành khách và hàng hóa Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tháng 11 tăng khá, chủ yếu do nhu cầu đi lại của cán bộ công chức do sáp nhập tỉnh, góp phần thúc đẩy doanh thu chung của ngành vận tải, kho bãi so với tháng trước và so với cùng kỳ. Vận tải hành khách Tháng 11/2025, khối lượng vận chuyển đạt 6,8 triệu lượt khách, giảm 6,5% so với tháng trước và tăng 19,3% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 930,3 triệu lượt khách.km, giảm 5,2% so với tháng trước và tăng 23,7% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 75,7 triệu hành khách, tăng 14,5% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 9.970,1 triệu hành khách.km, tăng 14,9% so với cùng kỳ. Vận tải hàng hóa Khối lượng vận chuyển tháng 11 ước đạt 4,8 triệu tấn, giảm 5,1% so với tháng trước và tăng 16,5% với cùng kỳ; Khối lượng luân chuyển ước đạt 724,7 triệu tấn.km, giảm 5,9% so với tháng trước và tăng 23,3% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 51,4 triệu tấn, tăng 12,6% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 7.549,8 triệu tấn.km, tăng 12,2% so với cùng kỳ. Hình 17. Vận chuyển và luân chuyển vận tải hành khách, hàng hóa (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính, chuyển phát Tổng doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy và bưu chính, chuyển phát ước tháng 11 năm 2025 đạt 1.683,1 tỷ đồng, giảm 2,8% so với tháng trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ; Trong đó, vận tải hành khách đạt 451,6 tỷ đồng, giảm 4,1% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa đạt 822,9 tỷ đồng, giảm 3,8% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 384,7 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 10,3% so với cùng kỳ; Doanh thu bưu chính chuyển phát đạt 23,9 tỷ đồng, giảm 2,7% so với tháng trước và tăng 0,1% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy và bưu chính, chuyển phát ước đạt 17.831,3 tỷ đồng tăng 10,3% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 4.824,3 tỷ đồng, tăng 14,7%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 8.600,7 tỷ đồng, tăng 10,2%; Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4.141,5 tỷ đồng tăng 6,3%; Doanh thu bưu chính, chuyển phát đạt 264,8 tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ.Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 11 năm 2025 ước đạt 1.060 nghìn TTQ, giảm 3,5% so với tháng trước, giảm 4,0% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025 sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển ước đạt 12.595,3 nghìn TTQ, giảm 5,0% so với cùng kỳ năm trước.Hình 18. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải (11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)6. Các vấn đề xã hội6.1. Tình hình đời sống dân cưTrong tháng, xảy ra hai đợt thiên tai: Cơn bão số 13 (Kalmaegi) và trận lũ lụt lịch sử từ ngày 19-20/11 gây thiệt hại lớn về người và vật chất, ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh. Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu toàn bộ hệ thống chính trị huy động tối đa lực lượng, phương tiện để cứu hộ, khắc phục, bảo đảm an toàn và ổn định đời sống Nhân dân; kiểm tra, đánh giá thiệt hại, tháo gỡ khó khăn cho các địa phương, đôn đốc công tác khắc phục, khôi phục sản xuất, hạ tầng thiết yếu và thăm hỏi, động viên các gia đình bị thiệt hại. Đến nay đời sống của người dân chịu ảnh hưởng của bão, lũ cơ bản ổn định, các điều kiện sống và sinh hoạt được đảm bảo, tỉnh tiếp tục thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phòng chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm; hỗ trợ chính sách cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, giải pháp cho vay, tạo việc làm,… góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống Nhân dân trên địa bàn tỉnh.6.2. Tình hình dịch bệnh và chăm sóc sức khỏeCông tác phòng, chống dịch bệnh được tập trung triển khai kịp thời, hiệu quả. Đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị phòng chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, công tác y tế dự phòng, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tiếp tục được quan tâm chỉ đạo. Duy trì thường xuyên hoạt động truyền thông về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giám sát các nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trong cộng đồng, kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm vi phạm về an toàn thực phẩm. Thường xuyên chỉ đạo, giám sát, kiểm tra các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai thực hiện, tuân thủ các quy trình chuyên môn, kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải tiến quy trình khám bệnh; triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ và cải thiện các điều kiện phục vụ sinh hoạt của người bệnh; nâng cao tinh thần trách nhiệm và phong cách, thái độ phục vụ của nhân viên y tế, đi đôi với đảm bảo vệ sinh môi trường và tạo dựng cảnh quan cơ sở y tế “xanh, sạch, đẹp” hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Trong tháng ngành Y tế tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ các địa phương trên địa bàn tỉnh xử lý bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng. Sau bão số 13 và lũ lụt, ngành Y tế đã Chỉ đạo Y tế dự phòng công tác phòng, chống dịch bệnh, giám sát dịch tễ, kiểm dịch và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh đặc biệt là các địa phương chịu ảnh hưởng.6.1. Tai nạn giao thông Trong tháng 11/2025 (từ ngày 15/10/2025 đến ngày 14/11/2025), trên địa bàn tỉnh xảy ra 73 vụ tai nạn giao thông (trong đó: 71 vụ tai nạn đường bộ và 2 vụ tai nạn đường sắt) tăng 43,1% (+22 vụ) so với tháng trước và giảm 14,1% (- 12 vụ) so với cùng kỳ; làm 48 người chết, tăng 54,8% (+17 người) so với tháng trước và giảm 9,4% (-5 người) so với cùng kỳ năm trước; làm 51 người bị thương, tăng 54,5% (+18 người) so với tháng trước và giảm 8,9% (-5 người) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 633 vụ tai nạn giao thông, giảm 29,4% (- 263 vụ); làm 460 người chết, giảm 5,3% (-26 người); làm 397 người bị thương, giảm 37,5% (-238 người) so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 1 tháng trong 11 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, làm 42 người chết và 36 người bị thương. Đăng ký phương tiện cơ giới đường bộ, đường thủy: Ôtô đăng ký mới 1.580 ô tô, 9.711 mô tô; nâng tổng số phương tiện đang quản lý trên địa bàn tỉnh là 2.884.174 phương tiện, trong đó 194.730 ô tô, 2.678.901 mô tô, 6.788 xe máy điện và 3.755 phương tiện khác.Kết quả công tác xử lý vi phạm Trật tự an toàn giao thông: Lập biên bản 10.832 trường hợp, phạt tiền hơn 17 tỷ đồng, tạm giữ 19 ô tô, 1.210 mô tô, 10 phương tiện khác và 6.545 giấy tờ phục vụ công tác xử lý; tước GPLX: 236 trường hợp, trừ điểm GPLX: 1.488 trường hợp. 2026 và dự thảo Khung hợp tác truyền thông chính sách và quảng bá hình ảnh tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030. Bên cạnh tổ chức tốt các sự kiện, sản phẩm du lịch mới, ngành du lịch đã tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định trong hoạt động kinh doanh du lịch tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú; kiểm tra hoạt động vận tải khách du lịch và hoạt động của hướng dẫn viên du lịch; tạo hình ảnh về một không gian đẹp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút du khách trong và ngoài nước.6.1. Tình hình môi trường - Vi phạm môi trường Trong tháng 11/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 23 vụ vi phạm môi trường, tăng 43,8% so với cùng kỳ; đã thực hiện xử lý 12 vụ, giảm 25,0% so với cùng kỳ; thu nộp về ngân sách 821 triệu đồng, tăng 741 triệu đồng so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025, đã phát hiện 171 vụ vi phạm môi trường, giảm 35,5% (- 94 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 124 vụ, giảm 53,2% (-141 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 1.949,6 triệu đồng, tăng 650 triệu đồng so với cùng kỳ. - Tình hình thiên tai Trong tháng 11/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ thiệt hại do bão và mưa lớn, làm 5 người chết và 11 người bị thương; Thiệt hại về tài sản: làm 1.189 ngôi nhà bị sập cuốn trôi, 134.394 ngôi nhà bị ngập và tốc mái; 3.613 ha diện tích lúa; 15.058 ha cây trồng hàng năm (cây ngô, mì) bị ngập, đổ ngã; 4.891 con gia súc và 390.846 gia cầm bị chết. Ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 11.632 tỷ đồng./.
Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai tháng 10 và 10 tháng 2025
- 03/11/2025 08:55
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10, 10 tháng năm 2025 với những kết quả như sau: - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10/2025 giảm 1,14% so với tháng trước và tăng 8,79% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng năm 2025 tăng 9,70% so với cùng kỳ; - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2025 ước đạt 17.073,0 tỷ đồng, giảm 2,0% so với tháng trước, và tăng 21,1% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 166.065,8 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ; - Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2025 ước đạt 3.801 triệu USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 2.978,1 triệu USD, tăng 23,7%; nhập khẩu ước đạt 822,9 triệu USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 2.155,2 triệu USD [1]; - Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 10 năm 2025 ước đạt 1.100 nghìn TTQ, tăng 6,7% so với tháng trước, giảm 5,2% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, ước đạt 11.537,1 nghìn TTQ, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm trước; - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Số liệu Xuất-Nhập khẩu trên địa bàn phía Đông Gia Lai do Thống kê tỉnh tổng hợp từ Điều tra hàng tháng; số liệu phía Tây Gia Lai do các Chi cục Hải quan khu vực cung cấp.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 10, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào gieo cấy, chăm sóc lúa mùa và thu hoạch vụ hè thu. Chăn nuôi phát triển ổn định, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, các dự án chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao ngày càng được mở rộng, đa dạng giống nuôi, công tác tái đàn được quan tâm đầu tư. Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào trồng rừng, khai thác gỗ theo kế hoạch. Nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định, các cơ sở tăng cường ứng dụng công nghệ cao, khai thác thủy sản kết hợp các biện pháp bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, thời tiết bất lợi đã ảnh hưởng đến hoạt động khai thác thủy sản biển.a) Nông nghiệp Đối với lúa vụ Mùa, diện tích gieo trồng tính đến ngày 21/10/2025 đạt 53.784,9 ha, giảm 0,3% (-170 ha) so với cùng kỳ. Diện tích thu hoạch đạt 49.320,9 ha, giảm 0,2% (-113,7 ha) so với cùng kỳ. Tính đến ngày 21/10/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng các loại cây chủ lực, như sau: Cây ngô 46.582,5 ha, tăng 0,7% (+314,1 ha) so với cùng kỳ; cây lạc 14.062,6 ha, giảm 1,1% (-157 ha) so với cùng kỳ; rau các loại 49.766,6 ha, tăng 2% (+965,7 ha) so với cùng kỳ; đậu các loại 22.781,1 ha, giảm 1,5% (-357,9 ha) so với cùng kỳ. Hình 1. Diện tích gieo trồng một số loại cây(Đến ngày 21/10/2025 so với cùng kỳ) Đến thời điểm 21/10/2025, tiến độ diện tích trồng mới và tái canh cây lâu năm ước đạt 5.412 ha, trong đó cây cà phê trồng mới và tái canh ước khoảng 2.794,7 ha, cây cao su 23,4 ha, cây điều 34,2 ha, cây tiêu 77,9 ha, cây chuối 307,4 ha, cây sầu riêng 641,6 ha. Các loại cây trồng khác như cao su, các loại cây ăn quả vẫn đang tiếp tục tiến hành thu hoạch đúng tiến độ. Tình hình chăn nuôi: Tính đến tháng 10/2025, đàn trâu của tỉnh ước đạt 26.639 con, giảm 4,7% (-1.319 con) so với cùng kỳ. Đàn bò ước đạt 808.020 con, tăng 3,5% (+27.438 con) so với cùng kỳ; trong đó, bò sữa ước đạt 14.287 con, tăng 3,3% (+463 con) so với cùng kỳ. Đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) ước đạt 1.675.537 con, tăng 18,3% (+258.749 con) so với cùng kỳ. Đàn gia cầm ước đạt 18.644,5 nghìn con, tăng 9,5% (+1.612,1 nghìn con) so với cùng kỳ; trong đó, đàn gà có 16.226 nghìn con, tăng 10,6% (+1.553,2 nghìn con) so với cùng kỳ.Hình 2. Số lượng đầu con gia súc, gia cầm(Tháng 10 năm 2025 so với cùng kỳ)a) Lâm nghiệp Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng 10 năm 2025 tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả rừng trồng bằng biện pháp thâm canh rừng trồng sản xuất, sử dụng cây giống nuôi cấy mô, cây giống lâm nghiệp mới, chất lượng cao phục vụ trồng rừng cây gỗ lớn. Trong tháng 10/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung được 2.825,9 ha, giảm 23,7% (-877,2 ha) so với cùng kỳ, lũy kế từ năm trồng được 18.335,4 ha, tăng 1% (+180,9 ha) so với cùng kỳ. Các đơn vị chuyên môn tiếp tục triển khai các kế hoạch chăm sóc rừng đã trồng, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, tiếp tục trồng rừng các đợt tiếp theo cho kịp kế hoạch đã đề ra. Ước tính tháng 10/2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 199.800 m³ tăng 3,2% (+6.256 m³) so với cùng kỳ, lũy kế từ năm sản lượng gỗ ước đạt 1.739.515,2 m³, tăng 5,8% (+95.438,2 m³) so với cùng kỳ, chủ yếu là các loại gỗ nguyên liệu dùng cho sản xuất và nhu cầu thiết yếu của hộ gia đình.Hình 3. Tình hình lâm nghiệp(10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Về tình hình cháy rừng: Trong tháng 10/2025 trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ việc. Lũy kế từ năm đến nay, xảy ra 02 vụ cháy rừng trồng, diện tích rừng bị thiệt hại 6,2 ha[1], giảm 246 ha so với cùng kỳ năm 2024. Về vi phạm phá rừng: Trong tháng 10/2025, phát hiện và lập biên bản 1 vụ vi phạm, diện tích thiệt hại 1,0 ha, giảm 65,0% (-1,8 ha) so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đến nay, phát hiện và lập biên bản 50 vụ, diện tích rừng bị phá 18 ha, giảm 54,8% (-21,8 ha) so với cùng kỳ. [1] Phường Hoài Nhơn Bắc: 01 vụ, diện tích 5,7 ha; xã Đăk Sơ Mei: 01 vụ, diện tích 0,45 ha. Thời tiết tháng 10 diễn biến tương đối phức tạp, hoạt động khai thác thủy sản chịu ảnh hưởng của 03 cơn bão và áp thấp nhiệt đới trên biển, ngư dân đã chủ động di chuyển ngư trường nên sản lượng khai thác thủy sản vẫn duy trì ở mức tăng trưởng so với cùng kỳ 2024; hoạt động nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục phát triển ổn định. Sản lượng khai thác thủy sản biển tháng 10/2025 ước đạt 22.740,4 tấn, tăng 3,7% (+813,4 tấn) so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng sản lượng ước đạt 244.780,5 tấn, tăng 2,8% (+6.679,8 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cá các loại tháng 10/2025 ước đạt 20.575,8 tấn, tăng 3,6% (+707,3 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng cá ước đạt 217.467,3 tấn, tăng 2,6% (+5.470,4 tấn) so với cùng kỳ; tôm tháng 10/2025 ước đạt 103,5 tấn, tăng 14,2% (+12,9 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng tôm ước đạt 1.191,6 tấn, tăng 18,8% (+188,4 tấn) so với cùng kỳ và thủy sản khác ước đạt 2.061,1 tấn, tăng 4,7% (+93,2 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng thủy sản khác ước đạt 26.121,6 tấn, tăng 4,1% (+1.021 tấn) so với cùng kỳ. Toàn tỉnh tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp cấp bách về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) và các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ theo quy định. Tiếp tục tăng cường hướng dẫn các hộ nuôi các biện pháp chủ động phòng chống dịch bệnh, định kỳ kiểm tra, giám sát các cơ sở nuôi để tránh dịch bệnh lây lan. Hướng dẫn các hộ nuôi chọn các loại giống chất lượng, ít nhiễm bệnh; ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ cao trong quá trình nuôi đạt năng suất cao, giảm thiểu các chi phí nuôi. Nuôi tôm hùm thương phẩm, mực lá có giá trị kinh tế cao được chú trọng quan tâm. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 10/2025 ước đạt ước đạt 2.319,7 tấn, tăng 2,1% (+47,7 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng ước đạt 17.258,6 tấn, tăng 0,5% (+91,2 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cá tháng 10 ước đạt 842,5 tấn, tăng 1,2% (+9,8 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng cá ước đạt 7.558,1 tấn, tăng 2% (+145,6 tấn) so với cùng kỳ, sản lượng tôm tháng 10 ước đạt 1.247,8 tấn, giảm 4,1% (-53,9 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng tôm ước đạt 8.104 tấn, giảm 5% (-426,3 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản khác tháng 10 ước đạt 229,4 tấn, tăng 66,7% (+91,8 tấn) so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng sản lượng thủy sản khác ước đạt 1.596,5 tấn, tăng 30,4% (+371,9 tấn) so với cùng kỳ.Hình 4. Sản lượng khai thác thủy sản biển chia theo loại con(10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)1. Sản xuất công nghiệp Thời gian qua, UBND tỉnh Gia Lai đã chủ động chỉ đạo và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm thúc đẩy phát triển công nghiệp trên địa bàn. Tỉnh tập trung rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề; đồng thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, đôn đốc tiến độ các dự án công nghiệp trọng điểm đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch. Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2025 ghi nhận sự khởi sắc, chỉ số IIP tăng 9,7% so với cùng kỳ, phản ánh nỗ lực duy trì đà tăng trưởng và phục hồi tích cực của ngành. Kết quả này là nền tảng quan trọng để tỉnh phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2025.2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2025 so với tháng trước giảm 1,14%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,09%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,78%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện giảm mạnh 11,49%; hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải giảm 0,49%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2025 tăng 8,79% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 26,45%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,29%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 11,31%; hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,24%. Trong bối cảnh kinh tế trong nước dần phục hồi sau những tác động từ biến động toàn cầu, ngành công nghiệp tỉnh Gia Lai tiếp tục khẳng định vai trò động lực đối với tăng trưởng kinh tế địa phương. Nhờ lợi thế về nguồn tài nguyên, lực lượng lao động dồi dào và môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2025 đã ghi nhận những kết quả khả quan, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,7% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi và mở rộng sản xuất, đồng thời tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong thời gian tới.Hình 5. Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp(10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,95%. Nguyên nhân do các mỏ khoáng sản titan đang dần cạn kiệt, doanh nghiệp hết giấy phép khai thác đã chuyển sang các ngành nghề kinh doanh khác. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,88%, là trụ cột chính của tăng trưởng công nghiệp. Trong đó, nhóm ngành tăng cao như: Chế biến thực phẩm; Sản xuất trang phục; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác. Tình hình sản xuất ở một số ngành chủ yếu của tỉnh: - Ngành chế biến thực phẩm tăng 9,49% do một số sản phẩm tăng như: Thức ăn gia súc tăng 7,66%; thức ăn gia cầm tăng 14,7%; tôm đông lạnh tăng 153,61%; sản phẩm sữa và kem tăng 11,46%; đường RS tăng cao 20,78% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, một số sản phẩm bị giảm sản lượng như: Tinh bột sắn giảm 4,11% do giá sắn tươi giảm, người dân chuyển đổi cây trồng sang trồng mía, nguồn nguyên liệu đầu vào giảm nên lượng sản xuất giảm; sản lượng đường RE giảm 3,61%; nước cam, chanh, quít, bưởi tươi giảm 15,8% do giá chanh dây không ổn định, có thời điểm xuống thấp nên người dân chặt bỏ chuyển sang trồng các loại cây khác như cà phê, sầu riêng dẫn đến sản lượng chanh dây sụt giảm mạnh, ảnh hưởng đến các nhà máy chế biến đóng trên địa bàn phải thu hẹp quy mô sản xuất. - Ngành sản xuất trang phục tăng 16,85%, phản ánh sự ổn định và phát triển của ngành may mặc trong tỉnh. Đây là một trong những điểm sáng nổi bật của hoạt động công nghiệp trong 10 tháng năm 2025. - Ngành sản xuất thuốc tăng nhẹ 2,66% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do Công ty Kabi đang triển khai bổ sung thêm một dây chuyền sản xuất mới nhằm nâng công suất hoạt động. Tuy nhiên, để đảm bảo độ vô khuẩn tuyệt đối của sản phẩm dung dịch truyền, trong quá trình lắp đặt dây chuyền mới, các dây chuyền hiện tại cũng phải tạm ngừng sản xuất, dẫn đến sản lượng chung của doanh nghiệp tăng chậm. - Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 31,47%, đóng góp chính từ sản phẩm gạch ốp lát tăng rất mạnh (+202,72%). Nguyên nhân do có 2 dự án có vốn đầu tư lớn đi vào hoạt động gồm Công ty cổ phần Takao Bình Định và Công ty CP Công nghiệp Kamado. - Ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 4,91%, đà tăng trưởng của ngành đang có dấu hiệu chững lại do nhu cầu tiêu thụ suy giảm, chịu ảnh hưởng từ những biến động bất ổn của thị trường cả trong nước và quốc tế, nhất là đối với sản phẩm tấm lợp kim loại. - Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 1,54% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế trên địa bàn tỉnh đang đối mặt với nhiều khó khăn do ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách thuế thương mại của Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam. Là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành, việc Mỹ chính thức áp thuế 20% đã dẫn đến các doanh nghiệp lâm vào tình trạng giảm đơn hàng, sản lượng sản xuất và tốc độ tăng trưởng chững lại. Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 16,41%. Đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp của tỉnh. Sản lượng điện tăng trưởng mạnh, chủ yếu nhờ vào sản lượng thủy điện, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng ngành, tăng 23,51% so với cùng kỳ do mở rộng nhà máy thủy điện Yaly với vốn đầu tư 6.398 tỷ đồng. Ngoài ra, mùa mưa đến sớm, lượng nước dồi dào giúp các hồ chứa tích trữ tốt, nâng cao hiệu suất phát điện. Điện gió cũng ghi nhận mức tăng 16,53% nhờ điều kiện gió thuận lợi. Điện mặt trời giảm nhẹ 0,77% do thời tiết nhiều mây và sự cắt giảm huy động điện mặt trời trong một số thời điểm. Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,05%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 3,83%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 33,23%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 16,28%.2.2. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động tháng 10/2025 của tỉnh tăng 2,18% so với tháng trước, chủ yếu nhờ hai ngành sử dụng nhiều lao động: Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế bắt đầu tuyển thêm nhân công phục vụ mùa hàng mới; ngành may trang phục tăng nhu cầu tuyển dụng do Công ty TNHH Delta Galil Việt Nam đang tuyển bổ sung khoảng 1.000 lao động từ nay đến cuối năm 2025. Trong đó, Công nghiệp khai khoáng tăng 0,56%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,46%; Sản xuất và phân phối điện giảm 0,07%; riêng Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giữ ổn định so với tháng trước. Chỉ số sử dụng lao động tháng 10/2025 giữ ổn định, chỉ tăng 0,59% so với cùng kỳ. Trong đó, Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,16%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 7,14%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,38%. Riêng ngành khai khoáng giảm 0,14%. Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ chỉ số sử dụng lao động tháng 10/2025 của khối doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,13%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 1,43%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9,14%.2. Thu hút đầu tư và tình hình phát triển doanh nghiệp[1] Công tác xúc tiến, thu hút đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh. Trong thời gian qua, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Gia Lai năm 2025. Hội nghị có sự tham dự của các tổ chức quốc tế, các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức xúc tiến đầu tư và hơn 400 doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng tham gia. Tại Hội nghị đã trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và ký kết ghi nhớ hợp tác đầu tư (MOU) cho 69 dự án với tổng vốn 119.700 tỷ đồng, tương đương hơn 4,6 tỷ USD. Trong đó, trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 27 dự án, tổng vốn đăng ký 26.300 tỷ đồng tương đương hơn 01 tỷ USD; ghi nhớ hợp tác đầu tư (MOU) 42 dự án, với tổng vốn đầu tư dự kiến lên đến 93.400 tỷ đồng, tương đương gần 3,6 tỷ USD. Về thu hút đầu tư: Lũy kế từ năm đến nay, toàn tỉnh thu hút 157 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký đầu tư là 82.752,5 tỷ đồng, trong đó có 143 dự án đầu tư trong nước có tổng vốn đăng ký 47.264,8 tỷ đồng và 14 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 35.487,7 tỷ đồng (tương đương 1.410,8 triệu USD). Trong đó: + Có 26 dự án đầu tư vào Cụm công nghiệp (CCN)với tổng vốn đầu tư 772 tỷ đồng (bình quân 30 tỷ đồng/dự án), tổng diện tích 41 ha. Hiện có 13 dự án đang triển khai thủ tục với vốn đầu tư 957,5 tỷ đồng, diện tích 26 ha. Tính đến nay, có 39 dự án đăng ký đầu tư vào CCN với tổng vốn đăng ký 1.729,5 tỷ đồng, tổng diện tích 67 ha. + Có 92 dự án sản xuất công nghiệp đi vào hoạt động (Kế hoạch năm 2025 có 100 dự án đi vào hoạt động) với tổng vốn đầu tư 10.758 tỷ đồng đi vào hoạt động (trong các CCN có 30 dự án với tổng vốn đầu tư 1.712 tỷ đồng đã đi vào hoạt động); trong đó, có 09 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 9.235 tỷ đồng. Về phát triển doanh nghiệp: Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Luỹ kế từ 01/01/2025 đến ngày 23/10/2025, trên địa bàn tỉnh có 2.596 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 20.006 tỷ đồng.3. Đầu tư Năm 2025 đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tỉnh Gia Lai trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội; là năm tăng tốc, bứt phá để hoàn thành các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, đồng thời đặt nền tảng vững chắc cho giai đoạn 2026 - 2030. Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 05/01/2025 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành, phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công, gắn với mục tiêu tăng tốc tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, phát triển kết cấu hạ tầng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững, hiệu quả. Tốc độ giải ngân vốn đầu tư công 10 tháng năm 2025 ước đạt 81% kế hoạch năm, thể hiện nỗ lực của các chủ đầu tư và nhà thầu trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm, góp phần hoàn thành mục tiêu kế hoạch đầu tư công năm 2025. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2025 ước đạt 1.280,5 tỷ đồng, giảm 6,1% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 11.801,3 tỷ đồng, tăng 30,1% so với cùng kỳ, đạt 81% kế hoạch năm, trong đó: - Vốn Ngân sách cấp tỉnh đạt 8.610,5 tỷ đồng, tăng 29,4%, đạt 80,5% so với kế hoạch; - Vốn Ngân sách cấp xã đạt 3.190,8 tỷ đồng, tăng 31,8%, đạt 82,3% so với kế hoạch.Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý(10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Nguồn từ Báo cáo 293/BC-STC ngày 22/10/2025 về Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 11 năm 2025. Tình hình thực hiện một số công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh Trong 10 tháng năm 2025, nhiều dự án, công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai quyết liệt, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường kết nối liên vùng. - Lĩnh vực giao thông: Các dự án giao thông trọng điểm, có tính chất kết nối liên vùng được đẩy mạnh triển khai như: Đường ven biển tỉnh Bình Định đoạn Cát Tiến - Diêm Vân, đường ven biển (ĐT.639) đoạn từ Quốc lộ 1D - Quốc lộ 19 mới, đường liên huyện Mang Yang - Ia Pa, đường tỉnh 669 và đường từ thành phố Pleiku đi trung tâm huyện Đak Đoa, đường hành lang kinh tế phía Đông (đường tránh Quốc lộ 19)… Bên cạnh đó, một số dự án giao thông trọng điểm đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, bước đầu phát huy hiệu quả tích cực trong thúc đẩy lưu thông hàng hóa, giảm ùn tắc, mở rộng không gian phát triển đô thị và công nghiệp, tiêu biểu như: Xây dựng tuyến đường tránh phía Nam thị trấn Phú Phong; tuyến đường kết nối đường phía Tây tỉnh đến đường ven biển qua địa bàn huyện Phù Mỹ; tuyến đường kết nối từ trung tâm thị xã An Nhơn đến đường ven biển phía Tây đầm Thị Nại; đường kết nối thị trấn An Lão với đường An Hòa đi Ân Hảo Tây. - Lĩnh vực y tế, giáo dục: Các dự án trọng điểm như khu xạ trị và trang thiết bị Bệnh viện Đa khoa tỉnh, đầu tư phát triển mạng lưới y tế cơ sở vùng khó khăn tỉnh Gia Lai, cùng hệ thống trường học đạt chuẩn quốc gia được thi công đúng tiến độ, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, cải thiện đời sống Nhân dân. - Lĩnh vực đô thị, hạ tầng tái định cư: Các dự án đô thị, khu tái định cư như Khu dân cư đường Nguyễn Văn Linh, khu dân cư phía bắc nhà ở xã hội Nhơn Bình, khu dân cư và tái định cư Vĩnh Hội. Việc đẩy mạnh tiến độ các công trình trọng điểm đã góp phần nâng cao khối lượng thực hiện, cải thiện tỷ lệ giải ngân, tạo xung lực tăng trưởng cho vốn đầu tư công toàn tỉnh và củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào hiệu quả đầu tư công. 1. Hoạt động Ngân hàng và thu, chi Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnha) Tình hình Ngân hàng[1] Ước tính đến cuối tháng 10/2025, tổng số dư huy động của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai ước đạt 205.740 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ và tăng 13,1% so với tháng 12 năm 2024. Tổng dư nợ cho vay tính đến 31/10/2025 ước đạt 244.280 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ và tăng 3,3% so với tháng 12 năm 2024. Ước đến 31/10/2025 nợ xấu trên địa bàn tỉnh chiếm 1,69% so với tổng dư nợ.Hình 7. Hoạt động ngân hàng(Đến 31/10/2025 so với cùng kỳ)b) Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh[2] Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nước phục hồi nhưng chưa thật sự đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực, công tác thu ngân sách nhà nước của tỉnh vẫn đạt tiến độ khá, đặc biệt là thu từ tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, một số khoản thu nội địa và thu từ xuất nhập khẩu còn đạt thấp so với dự toán; tình hình chi ngân sách, nhất là chi đầu tư phát triển, vẫn cần được tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân trong những tháng cuối năm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước và thanh toán các khoản chi trả nợ đến hạn, chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu, trợ cấp xã hội, thực hiện các nhiệm vụ chi phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chi trả kịp thời các chế độ, chính sách cho các đối tượng theo các Nghị định số 178/2024/NĐ-CP và Nghị định số 67/2025/NĐ-CP của Chính phủ. Đến ngày 23/10/2025, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 22.706 tỷ đồng, đạt 94,3% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa (trừ tiền sử dụng đất; thu cổ tức, lợi nhuận được chia và lợi nhuận còn lại, xổ số kiến thiết) đạt 11.706,1 tỷ đồng, bằng 84,7% dự toán; Thu từ tiền sử dụng đất đạt 10.066,8 tỷ đồng, bằng 115,8% dự toán, là khoản thu đạt tiến độ cao nhất, góp phần quan trọng vào tăng trưởng tổng thu ngân sách; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 419,1 tỷ đồng, bằng 42,8% dự toán, tiến độ còn thấp do kim ngạch một số mặt hàng giảm và tác động từ chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi. Về chi ngân sách nhà nước, đến cùng thời điểm, tổng chi ước thực hiện 32.954 tỷ đồng, đạt 76,3% so với dự toán năm. Trong đó, chi thường xuyên đạt 23.704 tỷ đồng, bằng 96,8% so với dự toán, tập trung chủ yếu cho các lĩnh vực giáo dục, y tế, an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh và hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Công tác giải ngân vốn đầu tư phát triển đang tiếp tục được đẩy mạnh nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương trong những tháng cuối năm.2. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịcha) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong tháng 10, các sự kiện văn hóa, du lịch như: Tuần lễ Văn hóa – Du lịch Gia Lai chào mừng kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10) và các sự kiện xúc tiến thương mại, cùng với đà phục hồi tiêu dùng nội địa, đã góp phần duy trì tăng trưởng cao của khu vực dịch vụ và bán lẻ tỉnh Gia Lai, dù chịu tác động ngắn hạn của thời tiết và yếu tố mùa vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tỉnh Gia Lai tháng 10 ước đạt 17.073 tỷ đồng, giảm 2% so với tháng trước, nhưng tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025 ước đạt 166.065,8 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ, trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 123.347,8 tỷ đồng, tăng 11,5%; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 25.305,1 tỷ đồng, tăng 20%; du lịch lữ hành ước đạt 1.157,4 tỷ đồng, tăng 23%; dịch vụ khác ước đạt 16.255,5 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 12.803,3 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,1% so với tháng trước, nhưng tăng mạnh 19,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ đạt 123.347,8 tỷ đồng, chiếm 74,3% trong doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và sản xuất phục hồi ổn định. Cơ cấu bán lẻ chuyển biến theo hướng hiện đại, phản ánh sức mua của thị trường nội địa ổn định và niềm tin tiêu dùng được củng cố. Các nhóm hàng tăng trưởng cao như: - Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tháng 10/2025 tăng 32,7% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu tiêu dùng nội thất, điện máy và đồ gia dụng cao; - Xăng, dầu các loại tháng 10/2025 tăng 23,5%, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá năng lượng trong nước điều chỉnh tăng và nhu cầu vận chuyển, sản xuất phục hồi; - Lương thực, thực phẩm tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm khoảng 40% tổng doanh thu bán lẻ, tháng 10/2025 tăng 21,0% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước; - Đá quý, kim loại và sản phẩm tháng 10/2025 tăng 17,4% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 7,5%; - Hàng gỗ và vật liệu xây dựng tháng 10/2025 tăng 14,9% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 18,5%; - Hàng may mặc tháng 10/2025 tăng 8,9% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 7,9%; - Vật phẩm văn hóa – giáo dục tháng 10/2025 tăng 11,6% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2025 tăng 13,3% so với cùng kỳ. Nguồn từ Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước - CN KV11; Nguồn từ Báo cáo 293/BC-STC ngày 22/10/2025 về Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 11 năm 2025. Cơ cấu thị trường: Bán lẻ hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức lưu chuyển hàng hóa – dịch vụ. Các cửa hàng bán lẻ hiện đại, siêu thị và thương mại điện tử tiếp tục mở rộng, đặc biệt tại các trung tâm phường phía Gia Lai Tây. Bên cạnh một số yếu tố rủi ro như: giá năng lượng và nguyên liệu nhập khẩu vẫn biến động phức tạp; sức mua người tiêu dùng phụ thuộc vào tiến độ thu hoạch nông sản... Tháng 10/2025, Gia Lai Tây bước vào mùa khô với khí hậu dễ chịu, tiết trời hơi se lạnh. Đây cũng là mùa lúa chín, mùa hoa dã quỳ, hoa muồng bung nở rực rỡ thuận lợi cho những du khách muốn trải nghiệm tại nơi này. Nhưng đối với Gia Lai Đông du lịch bắt đầu vào mùa thấp điểm, học sinh đi học trở lại sau kỳ nghỉ hè, thời tiết không thuận lợi cho du lịch nhất là du lịch biển đảo; do đó, hầu hết các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều giảm doanh thu so với tháng trước. Du lịch nội địa giữ vai trò chủ lực, lượng khách trong nước chiếm hơn 98% tổng lượng khách, là động lực chính thúc đẩy doanh thu lưu trú và ăn uống. Hình 8. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 10/2025 ước đạt 2.470,9 tỷ đồng, giảm 10,2% so với tháng trước và tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025 ước đạt 25.305,1 tỷ đồng, chiếm 15,2% trong doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, tăng 20,0% so với cùng kỳ, cho thấy hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống tiếp tục khởi sắc, phục hồi rõ nét sau thời kỳ chững lại của năm 2024. Trong đó: - Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 10/2025 ước đạt 266,1 tỷ đồng, giảm 9,3% so với tháng trước và tăng 35,9% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 3.030,4 tỷ đồng, tăng 19,0% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 10/2025 ước đạt 2.204,8 tỷ đồng, giảm 10,4% so với tháng trước và tăng 30,5% so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 22.274,7 tỷ đồng, tăng 20,1% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 10/2025 ước đạt 123,7 tỷ đồng, giảm 13,4% so với tháng trước, nhưng tăng 59,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đạt 1.157,4 tỷ đồng, tăng 23,0% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 10/2025 ước đạt 1.675,1 tỷ đồng, giảm 2,2% so với tháng trước, nhưng tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025 ước đạt 16.255,5 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ. Cụ thể tình hình một số ngành dịch vụ như: - Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 485,8 tỷ đồng, giảm 8,3% so với tháng trước và tăng 28% so với cùng kỳ. Sau thời gian 01/7/2025 khi hai tỉnh sáp nhập thị trường bất động sản tại địa phương đã có dấu hiệu ấm lại, đặc biệt là khu vực trung tâm hành chính mới tại Gia Lai Đông đã làm cho nhu cầu giao dịch bất động sản tăng cao so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng, doanh thu kinh doanh bất động sản đạt 4.893,8 tỷ đồng, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 191,6 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 10,3% so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ hành chính và hỗ trợ ước đạt 1.872,2 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giáo dục đào tạo ước đạt 82,9 tỷ đồng, giảm 8,3% so với tháng trước; so với cùng kỳ tăng 7%; Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 761,1 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ y tế ước đạt 172,7 tỷ đồng, tăng 3% so với tháng trước, tăng 7,4% so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ y tế ước đạt 1.664,6 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 340 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 25,4% so với cùng kỳ; Tính chung 10 tháng, dịch vụ vui chơi, giải trí ước đạt 3.253,2 tỷ đồng, tăng 17,2% so với cùng kỳ. - Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 402,2 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 15,2% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ khác đạt 3.810,6 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ.a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[1] Kinh tế thế giới năm 2025 được dự báo vẫn phải đối mặt với nhiều rủi ro thách thức như xung đột và căng thẳng địa chính trị kéo theo giá dầu, khí đốt và ngũ cốc tăng cao. Điều này không chỉ khiến chi phí đầu vào cho sản xuất và vận tải toàn cầu tăng, mà còn tạo ra sức ép lạm phát nhập khẩu đối với nhiều nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Ngoài ra, các lệnh trừng phạt kinh tế, hạn chế xuất khẩu công nghệ và nguyên liệu chiến lược giữa các khối kinh tế lớn đã làm giảm tốc độ phục hồi thương mại toàn cầu, ảnh hưởng gián tiếp đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước. Nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), tiếp tục áp dụng các chính sách thuế đối ứng và quy định kỹ thuật mới trong thương mại quốc tế, nhằm bảo vệ sản xuất nội địa. Các biện pháp như tiêu chuẩn xanh, yêu cầu xuất xứ và an toàn sản phẩm được siết chặt, làm tăng chi phí tuân thủ đối với hàng xuất khẩu từ các nước đang phát triển. Đối với Việt Nam, điều này gây áp lực lên doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, cà phê, gỗ, cao su - là các mặt hàng chủ lực của Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng. Nhìn chung, dù kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều biến động, song nhờ chính sách điều hành linh hoạt của Chính phủ, sự chủ động của doanh nghiệp, hoạt động thương mại - đầu tư của tỉnh Gia Lai vẫn được duy trì ổn định và tăng trưởng tích cực trong 10 tháng năm 2025. Tháng 10, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tỉnh Gia Lai ước đạt 311,2 triệu USD, bằng tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 3.801 triệu USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ; trong đó: xuất khẩu ước đạt 2.978,1 triệu USD, tăng 23,7% và vượt 3,4% so với số kế hoạch đề ra (kế hoạch xuất khẩu năm 2025 ước 2.880 triệu USD). Nhập khẩu ước đạt 822,9 triệu USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Hình 9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tỉnh Gia Lai (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) &*** Phía Gia Lai Đông Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 191 triệu USD, tăng nhẹ 0,2% so với tháng trước, nhưng giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 1.910,7 triệu USD, tăng 6% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 1.469,5 triệu USD, tăng 2,8%; nhập khẩu ước đạt 441,2 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 1.028,3 triệu USD. Xuất khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông, tháng 10/2025 ước đạt 135,6 triệu USD, giảm 0,5% so với tháng trước, giảm 11,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ đạt 153 triệu USD). Mười tháng năm 2025, xuất khẩu ước đạt 1.469,5 triệu USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 28,7 triệu USD, giảm 37%; kinh tế tư nhân ước đạt 1.188,7 triệu USD, tăng 5,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 252 triệu USD, giảm 1% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường xuất khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2025 có tốc độ tăng trưởng tích cực, với các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc. Trong đó, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 552,6 triệu USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ (cùng kỳ đạt 496,2 triệu USD), chiếm 37,6% trong tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp, các doanh nghiệp trong tỉnh xuất khẩu qua thị trường Hoa Kỳ chủ yếu ở một số mặt hàng như: Sản phẩm gỗ ước đạt 207,7 triệu USD, tăng 11,3%; Hàng dệt, may ước đạt 210,8 triệu USD, tăng 23,6% so với cùng kỳ… Tiếp đến là thị trường Nhật Bản (283,5 triệu USD), tăng 19,4% so với cùng kỳ, chiếm 19,3%; Trung Quốc (138,1 triệu USD), giảm 30,5% so với cùng kỳ, chiếm 9,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp của tỉnh. Hình 10. Xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Đông Gia Lai (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) - Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu trong 10 tháng năm 2025 Trong các nhóm hàng hóa xuất khẩu chủ lực như: nhóm hàng gỗ; sản phẩm gỗ; hàng dệt, may và nhóm hàng thủy sản tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu, khẳng định vai trò trụ cột trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh; cụ thể, một số nhóm ngành hàng xuất khẩu tăng/giảm so với cùng kỳ trong 10 tháng năm 2025. Nhóm thủy sản với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 128 triệu USD, tăng 18%; Mặt hàng gỗ xuất khẩu ước đạt 360,1 triệu USD, tăng 0,8%; Nhóm hàng sản phẩm gỗ (bàn ghế gỗ) ước đạt 377,8 triệu USD, tăng 5,8%; Nhóm hàng dệt may xuất khẩu ước đạt 334,7 triệu USD, tăng 16,6%... Ngược lại cũng có một số nhóm ngành hàng giảm, cụ thể: Nhóm hàng gạo xuất khẩu ước đạt 28,7 triệu USD, giảm 37%; Nhóm hàng sắn và sản phẩm từ sắn xuất khẩu ước đạt 60,4 triệu USD, giảm 9,4%; Nhóm quặng và khoáng sản khác xuất khẩu ước đạt 21,4 triệu USD, giảm 5,4%; Sản phẩm từ chất dẻo (sản phẩm chính là bàn ghế nhựa giả mây) xuất khẩu ước đạt 140,8 triệu USD, giảm 14,1%. Mười tháng năm 2025, xuất khẩu trực tiếp ước đạt 1.468,9 triệu USD qua 5 châu lục, trong đó: Châu Mỹ ước đạt 596,7 triệu USD (với 25 nước), tăng 9,8% so vói cùng kỳ, chiếm 40,6% trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa trực tiếp của tỉnh Gia Lai Đông; cụ thể, thị trường Mỹ ước đạt 552,6 triệu USD, tăng 11,4%; chiếm tỷ trọng lớn (37,6%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, cho thấy tầm quan trọng của thị trường này đối với tỉnh. Hình 11. Thị trường xuất khẩu hàng hóa trực tiếp phía Gia Lai Đông (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông: Nhập khẩu ước đạt 55,5 triệu USD, tăng 1,9% so với tháng trước, so với cùng kỳ tăng 37% (cùng kỳ đạt 40,5 triệu USD). Mười tháng năm 2025, nhập khẩu ước đạt 441,2 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ, trong đó: kinh tế tư nhân ước đạt 299,2 triệu USD, tăng 13,9%, chiếm 67,8% kim ngạch nhập khẩu; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 142 triệu USD, tăng 30,2% so với cùng kỳ, chiếm 32,2% kim ngạch nhập khẩu. Mười tháng năm 2025, tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa có tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ cho thấy nhu cầu đầu vào là nguyên liệu, máy móc, thiết bị… để phục vụ cho các hoạt động sản xuất trong tỉnh lớn, phản ánh sự phục hồi tích cực trong sản xuất kinh doanh của tỉnh. Nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu trong 10 tháng năm 2025: Mười tháng năm 2025 nhập khẩu tăng chủ yếu ở nhóm hàng: Nguyên liệu dùng cho chế biến thủy sản ước đạt 92,3 triệu USD, tăng 31,2%; Vải các loại ước đạt 88 triệu USD, tăng 37%; Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày ước đạt 89,3 triệu USD, tăng 8,3%; Máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng ước đạt 61,6 triệu USD, tăng 48,4%... Bên cạnh các nhóm hàng tăng cũng có một số nhóm ngành hàng giảm như: Nguyên phụ liệu dược phẩm ước đạt 11,4 triệu USD, giảm 29,4%; Gỗ và sản phẩm từ gỗ ước đạt 27,9 triệu USD, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2025: Mười tháng năm 2025, nhập khẩu trực tiếp ước đạt 441,2 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ, nhập khẩu từ 5 châu lục, cụ thể: Châu Á ước đạt 352,2 triệu USD, tăng 22,2%, chiếm 79,8%; Châu Âu ước đạt 32,5 triệu USD, tăng 47,3%, chiếm 7,4%; Châu Mỹ ước đạt 35 triệu USD, giảm 25,2% chiếm 7,9%; Châu Đại Dương ước đạt 8 triệu USD, giảm 2,9%, chiếm 1,8%; Châu Phi ước đạt 13,5 triệu USD, tăng 107,7%, chiếm 3,1% so với kim ngạch nhập khẩu trực tiếp. * Phía Gia Lai Tây Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 120,2 triệu USD, giảm nhẹ 0,3% so với tháng trước nhưng tăng mạnh 40,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 1.890,3 triệu USD, tăng 42,8% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 1.508,6 triệu USD, tăng 54,5%; nhập khẩu ước đạt 381,7 triệu USD, tăng 10,0% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 1.126,9 triệu USD. - Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) tháng 10 năm 2025 ước thực hiện 85,5 triệu USD, giảm 1,2% so với tháng trước, nhưng tăng mạnh 85,1% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, KNXK ước thực hiện 1.508,6 triệu USD, tăng 54,5% so với cùng kỳ. - Kim ngạch nhập khẩu (KNNK) tháng 10 năm 2025 ước thực hiện 34,7 triệu USD, tăng 2,2% so với tháng trước nhưng giảm 11,3% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, KNNK ước thực hiện 381,7 triệu USD, tăng 10,0% so với cùng kỳ. b) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng nhẹ 0,10% so với tháng trước, tăng 4,13% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,64% so với tháng 12 năm 2024. Bình quân 10 tháng năm 2025 CPI tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, lạm phát được kiểm soát trong ngưỡng mục tiêu dưới 4%, phản ánh sự điều hành linh hoạt của các chính sách tài khóa – tiền tệ, cùng với diễn biến giá cả hàng hóa trong nước tương đối ổn định. Tháng 10 so với tháng trước, có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tăng nhẹ, đó là: nhóm giáo dục tăng 1,63%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,45%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,11%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,03%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,04% và nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Có 03/11 nhóm chỉ số giảm so với tháng trước là: nhóm giao thông giảm 1,1%; nhóm nhà ở, điện nước chất đốt và VLXD giảm 0,51%; nhóm văn hóa, giải trí du lịch giảm 0,04%. Và 01 nhóm hàng giữ ổn định so với tháng trước là nhóm đồ uống, thuốc lá.Tháng 10 so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng 4,13% so với cùng kỳ, có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tăng giá cụ thể: Tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 20,9%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 11,22%; kế tiếp nhóm giáo dục tăng 7,28%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,81%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,41%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,11%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,00%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,01% và nhóm đồ uống và thuốc lá tăng nhẹ 0,84%. Ngược lại có 2 nhóm giảm: nhóm giao thông giảm 0,47% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,39%. [1] Thống kê tỉnh Gia Lai thu thập thông tin, tổng hợp và báo cáo UBND tỉnh về hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa phía Gia Lai Đông theo Quyết định số 2928/QĐ-UBND ngày 15/8/2024 của UBND tỉnh Bình Định. Đối với Gia Lai Tây, Thống kê tỉnh Gia Lai không thực hiện cuộc điều tra này, nên số liệu hàng hóa xuất nhập khẩu thu thập, tổng hợp từ báo cáo các Chi cục Hải quan khu vực. Đồ thị 1. CPI tháng 10 theo nhóm hàng hóa so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước (%) Bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 9/11 nhóm hàng tăng giá, 02/11 nhóm hàng giảm giá, cụ thể: (1) Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,26%, trong đó: Thực phẩm tăng 2,42%, chủ yếu do giá thịt lợn, rau củ và thủy hải sản tăng nhẹ trở lại. Ăn uống ngoài gia đình tăng 2,46%, phản ánh xu hướng tiêu dùng phục vụ lễ hội, du lịch và sinh hoạt xã hội sôi động hơn và lương thực tăng 1,01%. Nhìn chung, nhóm này tác động tăng nhẹ đến CPI chung, góp phần duy trì mặt bằng giá tiêu dùng ổn định. (2) Đồ uống và thuốc lá tăng 0,87%, giá các mặt hàng này ổn định, chỉ tăng nhẹ do chi phí vận chuyển và nguyên liệu đầu vào tăng, nhưng được bù lại bởi cạnh tranh thị trường và sức mua chưa cao. (3) May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,48%, nhóm này tăng theo yếu tố mùa vụ, đặc biệt trong quý IV khi nhu cầu may mặc, giày dép chuẩn bị mùa đông và dịp Tết Dương lịch tăng cao. (4) Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,69%, đây là một trong những nhóm tăng mạnh nhất, nguyên nhân chủ yếu do: Giá điện sinh hoạt được điều chỉnh tăng theo lộ trình. Giá vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép) tăng trở lại do nhu cầu đầu tư công và thị trường xây dựng hồi phục. Giá nước sạch và dịch vụ sửa chữa nhà ở cũng tăng do chi phí đầu vào và nhân công cao hơn. (5) Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,16%, giá hàng gia dụng, thiết bị điện tử tăng do tỷ giá USD tăng làm giá nhập khẩu một số mặt hàng điện máy, điện lạnh tăng nhẹ. (6) Thuốc và dịch vụ y tế tăng 23,61%, là nhóm có mức tăng cao nhất, chủ yếu do: Nhà nước điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí. Giá thuốc tân dược nhập khẩu tăng theo biến động tỷ giá và giá nguyên liệu dược thế giới. (7) Giao thông giảm 2,83%, giảm mạnh so với cùng kỳ, do: Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm theo xu hướng giá thế giới; đồng thời, nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách ổn định, không có đột biến tăng giá. Nhóm này là yếu tố chính giúp kiềm chế CPI chung, giảm áp lực lạm phát. (8) Bưu chính, viễn thông giảm 0,52%, tiếp tục xu hướng giảm nhẹ do cạnh tranh mạnh giữa các nhà mạng, gói cước giảm, khuyến mãi nhiều. (9) Giáo dục tăng 6,09%, riêng dịch vụ giáo dục tăng 6,84%, đóng góp đáng kể vào CPI chung trong tháng 9-10 năm 2025. (10) Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35%, tăng nhẹ do nhu cầu du lịch, vui chơi, giải trí, tổ chức sự kiện tăng vào mùa cao điểm cuối năm. (11) Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,20%, tăng do chi phí dịch vụ cá nhân, cắt tóc, làm đẹp, đồ dùng sinh hoạt nhỏ lẻ tăng theo thu nhập và sức mua.Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Giá vàng thế giới tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị kéo dài, xung đột tại một số khu vực và xu hướng nắm giữ tài sản an toàn của các nhà đầu tư tăng cao. Đồng USD biến động mạnh, lãi suất thực tại nhiều nền kinh tế lớn giảm khiến nhà đầu tư chuyển hướng sang vàng. Thêm vào đó, quỹ ETF vàng toàn cầu tăng lượng nắm giữ, làm giá vàng quốc tế duy trì ở mức cao. Trong nước, giá vàng biến động cùng chiều với thế giới, đồng thời chịu tác động từ cung – cầu nội địa và chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới vẫn ở mức cao. Tháng 10 năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 11,27% so với tháng trước; tăng 65,11% so với cùng kỳ và bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 47,36% so với bình quân cùng kỳ. Chỉ số Đô la Mỹ tháng 10/2025 giảm 0,46% so với tháng trước, tăng 5,35% so với cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu: Trong tháng 10, đồng USD giảm nhẹ so với các ngoại tệ chủ chốt do kỳ vọng FED sẽ giảm tốc độ thắt chặt chính sách tiền tệ, khiến tỷ giá USD/VND trong nước ổn định hoặc giảm nhẹ. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, tỷ giá vẫn tăng do chênh lệch lãi suất giữa VND và USD còn cao, nhu cầu thanh toán nhập khẩu tăng, và ngân hàng trung ương nhiều nước tiếp tục tích trữ USD. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành tỷ giá linh hoạt, can thiệp bán ngoại tệ hỗ trợ nguồn cung, góp phần ổn định thị trường ngoại hối và kiềm chế lạm phát nhập khẩu.Hình 12. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ(tháng 10 và bình quân 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)a) Vận tải hành khách và hàng hóa Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tháng 10 tăng khá chủ yếu do nhu cầu đi lại của cán bộ công chức do sáp nhập tỉnh, góp phần thúc đẩy doanh thu chung của ngành vận tải kho bãi so với tháng trước và so với cùng kỳ. Vận tải hành khách Tháng 10/2025, khối lượng vận chuyển đạt 6,97 triệu lượt khách, giảm 6,3% so với tháng trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 953,6 triệu lượt khách.km, giảm 5,4% so với tháng trước và tăng 22,8% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 68,5 triệu hành khách, tăng 13,5% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 9.011,8 triệu hành khách.km, tăng 13,7% so với cùng kỳ. Vận tải hàng hóa Khối lượng vận chuyển tháng 10 ước đạt 4,9 triệu tấn, giảm 3,6% so với tháng trước và tăng 14,9% với cùng kỳ; Khối lượng luân chuyển ước đạt 722,9 triệu tấn.km, giảm 6,3% so với tháng trước và tăng 21,5% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 46,4 triệu tấn, tăng 11,8% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 6.778,1 triệu tấn.km, tăng 10,4% so với cùng kỳ. Hình 13. Vận chuyển và luân chuyển vận tải hành khách, hàng hóa (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính, chuyển phát Tổng doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy và bưu chính, chuyển phát ước tháng 10 năm 2025 đạt 1.763,4 tỷ đồng, giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 20,8% so với cùng kỳ; Trong đó, vận tải hành khách đạt 469,8 tỷ đồng, giảm 4,0% so với tháng trước và tăng 24,3% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa đạt 867,8 tỷ đồng, giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 21,8% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 401,6 tỷ đồng, ổn định so với tháng trước và tăng 16,4% so với cùng kỳ; Doanh thu bưu chính chuyển phát đạt 24,2 tỷ đồng, giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 2,3% so với cùng kỳ. Hình 14. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải (10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy và bưu chính, chuyển phát ước đạt 16.179,6 tỷ đồng tăng 10,0% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 4.371,6 tỷ đồng, tăng 14,0%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 7.789,6 tỷ đồng, tăng 9,8%; Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 3.777,7 tỷ đồng tăng 6,5%; Doanh thu bưu chính, chuyển phát đạt 240,7 tỷ đồng, tăng 4,1% so với cùng kỳ. Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 10 năm 2025 ước đạt 1.100 nghìn TTQ, tăng 6,7% so với tháng trước, giảm 5,2% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025 sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển ước đạt 11.537,1 nghìn TTQ, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm trước.1. Các vấn đề xã hộia) Tình hình đời sống dân cư Trong tháng 10, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, đời sống dân cư luôn được nâng lên. Tỉnh tiếp tục đẩy nhanh các dự án/công trình hạ tầng giao thông trọng điểm, thu hút đầu tư và đa dạng các sản phẩm du lịch tạo điều kiện phát triển cho nhiều ngành như khách sạn, nhà hàng, thương mại, dịch vụ, tạo cơ hội mua sắm và quảng bá, giới thiệu những sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp tiêu biểu của địa phương. Bên cạnh những thuận lợi, tỉnh tiếp tục thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phòng chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm; hỗ trợ chính sách cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, giải pháp cho vay, tạo việc làm,… góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống Nhân dân trên địa bàn tỉnh.b) Tình hình dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe[1] Công tác phòng, chống dịch bệnh được tập trung triển khai kịp thời, hiệu quả. Đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị phòng chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, công tác y tế dự phòng, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tiếp tục được quan tâm chỉ đạo. Duy trì thường xuyên hoạt động truyền thông về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giám sát các nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trong cộng đồng, kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm vi phạm về an toàn thực phẩm. Tình hình một số bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm (từ ngày 15/9/2025 đến hết ngày 14/10/2025): Bệnh sốt xuất huyết: số mắc mới trong tháng 10/2025: 450 ca, luỹ kế từ đầu năm đến hết ngày 14/10/2025 là 2.897 ca; Bệnh tay - chân - miệng, số mắc mới trong tháng là 132 ca, luỹ kế 10 tháng là 672 ca; Bệnh sốt phát ban nghi Sởi: trong tháng ghi nhận 01 ca mắc mới, luỹ kế: 4.134 ca; Bệnh Sốt rét: từ đầu năm đến nay không có ca mắc mới. Về công tác tiêm chủng mở rộng: Số trẻ dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ: 31.432/43.611 đối tượng, tỷ lệ 72,1%. Số trẻ được tiêm viêm gan B trước 24 giờ sau khi sinh: 26.379/43.611, tỷ lệ 60,5%. Số trẻ bị phản ứng sau tiêm chủng: 62 trường hợp, luỹ kế: 1.173 trường hợp (phản ứng thông thường). Số phụ nữ có thai tiêm phòng uốn ván > 2 mũi: 25.822/43.028 đối tượng, tỷ lệ 60,0%. * Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm Tháng 10/2025, thực hiện kiểm tra 20 cơ sở về công tác bảo đảm an toàn thực phẩm, không có cơ sở vi phạm. Trong tháng không ghi nhận trường hợp ngộ độc thực phẩm. Tính chung 10 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm với 160 người mắc bệnh, đã được cấp cứu kịp thời, không có trường hợp tử vong. Nguyên nhân ngộ độc chủ yếu là do ăn nấm chưa rõ loại, thức ăn trong tiệc tân gia và độc tố tự nhiên trong thịt cóc. Các vụ ngộ độc này đều gây ra hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, tuy nhiên đã được kiểm soát kịp thời.c) Tai nạn giao thông Trong tháng 10/2025 (từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025), trên địa bàn tỉnh xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông, tăng 27,5% (+11 vụ) so với tháng trước và giảm 36,2% (- 29 vụ) so với cùng kỳ; làm 31 người chết, tăng 14,8% (-4 người) so với tháng trước và giảm 40,4% (-21 người) so với cùng kỳ năm trước; làm 33 người bị thương, tăng 22,2% (+6 người) so với tháng trước và giảm 28,3% (-13 người) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 561 vụ tai nạn giao thông, giảm 30,7% (- 249 vụ); làm 413 người chết, giảm 4,6% (-20 người); làm 349 người bị thương, giảm 39,8% (-234 người) so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 1 tháng trong 10 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông, làm 41 người chết và 35 người bị thương.a. Theo số liệu Ban An toàn Giao thông tỉnh, tính từ ngày 15/6/2025 đến ngày 14/7/2025 Toàn tỉnh tiến hành đăng ký mới 661 xe ô tô, 3.517 xe mô tô. Tổng số phương tiện hiện đang quản lý là: 2.841.568 phương tiện (ôtô 187.673 xe, mô tô 2.644.764 xe, 5.376 xe máy điện, 3.755 phương tiện khác.d) Giáo dục[2] Trong tháng 10, chuẩn bị và tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 năm học 2025-2026, tổ chức tại 03 điểm thi với 56 phòng thi, 1.186 thí sinh đăng ký dự thi ở các môn thi. Triển khai đánh giá ngoài kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia 09 cơ sở giáo dục mầm non và trường phổ thông. Hoàn thành việc tổ chức kỳ thi cuối khóa tiếng dân tộc thiểu số, khóa thi tháng 10/2025 tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh. Triển khai, tổ chức hưởng ứng Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025 trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2025-2026 đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Công tác quản lý việc dạy thêm, học thêm được tăng cường; hoạt động chuyển đổi số và phát triển giáo dục STEM trên địa bàn tiếp tục được đẩy mạnh. Quy mô mạng lưới trường lớp các cấp học được củng cố, mở rộng và phân bổ đến hầu hết các địa bàn dân cư xã, phường đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đưa trẻ đến trường và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Việc triển khai các tiểu dự án đào tạo nghề và việc làm thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia được các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm triển khai thực hiện đồng bộ, các dự án đã bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân trên địa bàn tỉnh. Tổ chức kiểm tra, giám sát công tác đào tạo nghề theo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tại các địa phương; đôn đốc 77 xã Gia Lai (sau sáp nhập) khẩn trương tổ chức đào tạo nghề theo các Chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là đào tạo nghề cho người lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Triển khai thực hiện Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” tại các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh.e) Văn hóa, thể dục và thể thao[3] * Về văn hóa: Tiếp tục triển khai xây dựng các Đề án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh trong Danh sách của UNESCO và Danh mục quốc gia gồm: Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Hát bội và Bài chòi Bình Định, giai đoạn 2025 - 2030; Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 - 2030. Triển khai công tác tham gia Liên hoan Hô hát Bài chòi khu vực Trung bộ năm 2025 tại thành phố Đà Nẵng. Đồng thời, trình UBND tỉnh xin chủ trương tổ chức kỷ niệm 20 năm Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (25/11/2005-25/11/2025); phối hợp với UBND phường Quy Nhơn Đông đề xuất nội dung gửi Cục Văn Di sản văn hóa triển khai Dự án Bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống phục vụ phát triển du lịch gắn với xây dựng nông thôn mới. Các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan; văn hóa, văn nghệ, thể thao chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 được tổ chức thành công. Đồng thời, triển khai Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tuyên truyền Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. * Về thể dục, thể thao: Trong tháng 10 năm 2025, ban hành Kế hoạch tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp tiến tới Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Gia Lai lần thứ I năm 2026; tiếp tục hướng dẫn các Hội, Liên đoàn lĩnh vực thể thao trên địa bàn tỉnh hoàn thành các thủ tục đổi tên, hiệp thương chia, tách, sáp nhập, hợp nhất Hội, Liên đoàn sau khi sáp nhập tỉnh; Kế hoạch và Điều lệ Hội đua thuyền độc mộc trên sông Pô Cô tỉnh Gia Lai năm 2025 tranh cúp A Sanh; Kế hoạch tổ chức các hoạt động thể dục thể thao trong chương trình Tuần lễ Hoa Dã Quỳ - Núi lửa Chư Đăng Ya năm 2025; Kế hoạch tổ chức lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thể dục thể thao dành cho cán bộ, công chức, viên chức thể dục thể thao cơ sở tại tỉnh Gia Lai năm 2025. Tiếp tục rà soát tổng thể các chính sách liên quan đến lĩnh vực thể thao đang được áp dụng trên địa bàn tỉnh; hoàn thiện Quy chế quản lý các đội tuyển thể thao tỉnh Gia Lai. Đồng thời, thống nhất danh mục đăng cai tổ chức các giải thể thao quốc gia và quốc tế năm 2026. * Về du lịch: Công tác quản lý và tổ chức các hoạt động du lịch tiếp tục được duy trì thường xuyên. Trong thời gian qua, ngành Du lịch đã tổ chức nhiều hoạt động, sự kiện, lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch. Trình UBND tỉnh ban hành Kế hoạch truyền thông chính sách và quảng bá hình ảnh tỉnh Gia Lai năm 2026 và dự thảo Khung hợp tác truyền thông chính sách và quảng bá hình ảnh tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030. Bên cạnh tổ chức tốt các sự kiện, sản phẩm du lịch mới, ngành du lịch đã tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định trong hoạt động kinh doanh du lịch tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú; kiểm tra hoạt động vận tải khách du lịch và hoạt động của hướng dẫn viên du lịch; tạo hình ảnh về một không gian đẹp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút du khách trong và ngoài nước.f) Tình hình môi trường - Vi phạm môi trường: Trong tháng 10/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 21 vụ vi phạm môi trường, tăng 40% so với cùng kỳ; đã thực hiện xử lý 9 vụ, giảm 52,6% so với cùng kỳ; thu nộp về ngân sách 181,1 triệu đồng, tăng 56,1% so với cùng kỳ; Lũy kế 10 tháng năm 2025, đã phát hiện 148 vụ vi phạm môi trường, giảm 40,6% (- 101 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 112 vụ, giảm 55% (-137 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 1.128,6 triệu đồng, giảm 7,4% (- 90,8 triệu đồng). - Tình hình thiên tai: Trong tháng 10/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ thiệt hại do mưa lớn, làm 02 ngôi nhà bị sập; 21 ngôi nhà bị ngập và tốc mái; 133,9 ha diện tích lúa; 50,8 ha cây trồng hàng năm (cây ngô, mì) bị ngập, đổ ngã. Ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 4,8 tỷ đồng.Tính chung 10 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã xảy ra 67 vụ thiệt hại làm 02 người chết, 4 người mất tích và 3 người bị thương; Thiệt hại về vật chất: 205 căn nhà bị hư hại, 575,2 ha lúa và 54,1 ha hoa màu bị hư hỏng. Ước tổng giá trị thiệt hại 25.381,2 triệu đồng./. [1] Báo cáo số 201/BC-SYT ngày 21/10/2025 về Công tác Y tế tháng 10 năm 2025 (Từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025);[2] Nguồn từ Báo cáo số 2004/BC-SGDĐT ngày 17/10/2025 về Đánh giá tình hình công tác tháng 10 năm 2025 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 11 năm 2025.[3] Nguồn từ Báo cáo số 212/BC-VHTTDL ngày 21/10/2025 Báo cáo Kết quả thực hiện công tác của ngành văn hóa, thể thao và du lịch tháng 10 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 11 năm 2025;
Báo cáo tỉnh hình Kinh tế - Xã hội quý III và 9 tháng năm 2025
- 06/10/2025 10:08
Tỉnh Gia Lai triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2025 với những thuận lợi, khó khăn đan xen. Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường cả về chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội. Trong nước, kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi, môi trường đầu tư kinh doanh cải thiện, góp phần tích cực cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, tạo được sự tin tưởng, ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; tuy nhiên, tình hình phát triển kinh tế trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Trong 9 tháng năm 2025, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Gia Lai được đảm bảo, kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì và phát triển hầu hết các ngành, lĩnh vực và đạt được những kết quả quan trọng, tạo tiền đề, động lực để tỉnh hoàn thành nhiệm vụ, kế hoạch của cả năm. Chín tháng năm 2025, sản xuất nông nghiệp của tỉnh tập trung vào chăm sóc, thu hoạch cây trồng vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu và vụ Mùa, hiện nay ngành Nông nghiệp đang đôn đốc, hướng dẫn nông dân gieo sạ lúa và trồng các loại cây trồng cạn vụ Mùa. Các dự án phát triển chăn nuôi tiếp tục được triển khai thực hiện. Công tác phòng, chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm tiếp tục được quan tâm; Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu là công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng thực hiện theo kế hoạch; Hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản theo hướng bền vững gắn với các biện pháp bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản, thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác xa bờ; nhân rộng các mô hình nuôi tôm công nghệ cao tại một số địa phương ven biển; Hoạt động khai thác thủy sản nhìn chung thuận lợi trong các tháng đầu năm. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã và đang triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, bao gồm đào tạo nhân lực, cải thiện cơ sở hạ tầng và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thu hút được nhiều dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là các khu công nghiệp mới được thành lập và mở rộng. Nhiều doanh nghiệp đang áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là lĩnh vực chính, đóng góp lớn vào tăng trưởng của tỉnh. Do đó, hoạt động công nghiệp trong 9 tháng năm 2025 đang phát triển tích cực, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Chín tháng năm 2025, nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước phục hồi, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của du lịch đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ từ đầu năm đến nay. Tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường xúc tiến du lịch, thu hút khách đến tham quan các khu du lịch; tạo điều kiện tốt cho các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở tăng cường sản xuất, liên doanh liên kết mở rộng thị trường, hợp tác và đầu tư, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và Nhân dân có thêm cơ hội mua sắm và quảng bá, giới thiệu những sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp tiêu biểu của địa phương. Hoạt động liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản được tăng cường. Các hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức sôi nổi, hoạt động vui chơi, giải trí gia tăng đã góp phần thúc đẩy các hoạt động thương mại. Cụ thể tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, 9 tháng năm 2025 có những kết quả như sau: - Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá so sánh năm 2010 ước tính 9 tháng năm 2025 tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước; - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9/2025 tăng 2,19% so với tháng trước và tăng 8,94% so với cùng kỳ; luỹ kế 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 9,51%; - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2025 ước đạt 17.442,4 tỷ đồng, giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 22,0% so với cùng kỳ; luỹ kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 149.012 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ; - Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2025 ước đạt 3.498,8 triệu USD, tăng 22,9% so với cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu ước đạt 2.776,1 triệu USD, tăng 25,8%; nhập khẩu ước đạt 722,7 triệu USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu ước đạt 2.053,4 triệu USD [1]; - Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 9 năm 2025 ước đạt 1.195 nghìn TTQ, giảm 2,9% so với tháng trước, giảm 1,1% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2025, ước đạt 10.601,6 nghìn TTQ, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước; - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. 1. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá so sánh năm 2010 ước tính quý III năm 2025 tăng 6,88% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo khu vực: Khu vực I (Nông, lâm nghiệp và thủy sản) tăng 2,26%; khu vực II (Công nghiệp và xây dựng) tăng 11,06%, trong đó Công nghiệp tăng 12,76%; khu vực III (Dịch vụ) tăng 7,30%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 2,26%. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành ước tính quý III năm 2025 đạt 68.174,9 tỷ đồng. Trong đó, cơ cấu kinh tế: Khu vực I (Nông, lâm nghiệp và thủy sản) chiếm 26,21%; khu vực II (Công nghiệp và xây dựng) chiếm 29,65%, trong đó Công nghiệp chiếm 22,60%; khu vực III (Dịch vụ) chiếm 39,36%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,78%. Hình 1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế quý III năm 2025 (so với cùng kỳ năm 2024) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá so sánh năm 2010 ước tính 9 tháng năm 2025 tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo khu vực: Khu vực I (Nông, lâm nghiệp và thủy sản) tăng 3,77%; khu vực II (Công nghiệp và xây dựng) tăng 10,93%, trong đó Công nghiệp tăng 11,97%; khu vực III (Dịch vụ) tăng 7,53%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 1,42%. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành ước tính 9 tháng năm 2025 đạt 184.999,1 tỷ đồng. Theo đó cơ cấu kinh tế như sau: Khu vực I (Nông, lâm nghiệp và thủy sản) chiếm 25,63%; khu vực II (Công nghiệp và xây dựng) chiếm 29,56%, trong đó Công nghiệp chiếm 23,21%; khu vực III (Dịch vụ) chiếm 40,70%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,11%. Hình 2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2025 (so với cùng kỳ năm 2024)2. Tài chính, ngân hàng 2.1. Thu, chi Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2025 ước thực hiện 20.244 tỷ đồng, đạt 81,1% so với dự toán. Trong đó, thu nội địa (trừ tiền sử dụng đất; thu cổ tức, lợi nhuận được chia và lợi nhuận còn lại, xổ số kiến thiết) là 10.255,6 tỷ đồng, đạt 72,2% so với dự toán; thu tiền sử dụng đất là 9.120 tỷ đồng, đạt 104,9% so với dự toán; thu xuất nhập khẩu là 400 tỷ đồng, đạt 40,8% so với dự toán. Tổng chi ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2025 là 26.923 tỷ đồng, đạt 62,3% so với dự toán; trong đó chi thường xuyên là 19.577 tỷ đồng, đạt 79,9% so với dự toán.2.2. Tình hình Ngân hàng Ước tính đến cuối tháng 9 năm 2025, tổng số dư huy động của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh ước đạt 203.680 tỷ đồng, tăng 12% so với 31/12/2024 và tăng 18,4% so với cùng kỳ. Tổng dư nợ cho vay ước đến 30/9/2025 là 240.790 tỷ đồng, tăng 1,8% so với 31/12/2024 và tăng 7,9% so với cùng kỳ. Nợ xấu ước đến 30/9/2025 chiếm tỷ lệ khoảng 1,71% so với tổng dư nợ. Hình 3. Hoạt động ngân hàng(Đến 30/9/2025 so với cùng kỳ)3. Giá cả Chín tháng năm 2025, thị trường hàng hóa thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội. Các tổ chức quốc tế nhận định lạm phát toàn cầu năm 2025 là một bức tranh phức tạp, mặc dù xu hướng chung toàn cầu là lạm phát giảm do nhu cầu giảm và giá năng lượng thấp hơn. Một số rủi ro như thuế quan của Hoa Kỳ và căng thẳng địa chính trị dẫn đến sự khác nhau đáng kể giữa các quốc gia. Trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu dồi dào và nhu cầu nhập khẩu yếu, giá đồ uống giảm mạnh và giá nông sản cũng giảm. Trong nước, bão số 7 (tên quốc tế là Tapah) đổ bộ vào đầu tháng 9, tuy nhiên tỉnh Gia Lai không chịu ảnh hưởng trực tiếp. Do đó, giá cả hàng hóa trên địa bàn không có biến động lớn; thị trường các mặt hàng phục vụ sản xuất ổn định, nguồn cung được bảo đảm.3.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Gia Lai tháng 9 năm 2025 tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước; tăng 3,54% so với tháng 12 năm trước; bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 3,89% so với cùng kỳ.Hình 4. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2025 So với tháng trước, có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tăng nhẹ, đó là: nhóm giao thông tăng 0,63%; nhóm nhà ở, điện nước chất đốt và VLXD tăng 0,32%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,29%; nhóm giáo dục tăng 0,18%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,14%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,12%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,07%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03%; nhóm văn hóa, giải trí du lịch tăng 0,02%. Tháng 9 đã bắt đầu vào năm học mới 2025-2026, tuy nhiên, giá cả sách giáo khoa, đồ dùng học tập và dịch vụ học phí vẫn ổn định. Có 02/11 nhóm chỉ số ổn định so với tháng trước là: nhóm bưu chính viễn thông và nhóm thuốc và dịch vụ y tế. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 3,89% so với cùng kỳ, có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tăng giá cụ thể: Tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 23,91%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 7,3%; kế tiếp nhóm giáo dục tăng 5,96%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,47%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,4%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,13%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,52%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,39% và nhóm đồ uống và thuốc lá tăng nhẹ 0,88%. Ngược lại có 2 nhóm giảm: nhóm giao thông giảm 3,1% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,54%. Đồ thị 1. Chỉ số CPI bình quân 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ3.2. Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Thị trường vàng trong nước vừa trải qua kỳ giao dịch đầy biến động. Nguyên nhân chính khiến giá vàng trong nước biến động trong tuần qua là do giá vàng thế giới giảm. Giá vàng biến động là do thị trường vàng thế giới chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm lo ngại về suy thoái kinh tế toàn cầu, căng thẳng địa chính trị và chính sách tiền tệ của các ngân hàng Trung ương.Tháng 9 năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 7,65% so với tháng trước; tăng 56,49% so với cùng kỳ và bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 45,51% so với bình quân cùng kỳ.Tỷ giá USD tại các ngân hàng trong nước tăng đồng loạt ở cả hai chiều mua bán. Đồng đô la Mỹ tăng giá so với hầu hết các loại tiền tệ chính sau khi dữ liệu bán lẻ tốt hơn dự kiến. Chỉ số Đô la Mỹ tháng 9/2025 tăng 0,36% so với tháng trước, tăng 6,59% so với cùng kỳ năm 2024 và chỉ số giá vàng bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 3,79% so với cùng kỳ.Hình 5. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ (tháng 9 và bình quân 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) 3.3. Giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm, thủy sản Thị trường thế giới có nhiều biến động, ảnh hưởng đến giá cả toàn cầu, và nước ta có nền tảng vĩ mô ổn định nhưng vẫn không tránh khỏi bị tác động tiêu cực, đặc biệt là nguyên vật liệu nhập khẩu, kinh tế thế giới phục hồi chậm, chính sách tiền tệ tiếp tục thắt chặt, giá cả hàng hóa thiết yếu biến động. Tại tỉnh Gia Lai, tình hình sản xuất kinh doanh hồi phục tăng trưởng, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý III năm 2025 tăng nhẹ so quý trước và so với cùng kỳ năm trước. a) Phía Đông Gia Lai Chỉ số chung giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2025 giảm 1,8% so với quý trước, tăng 0,9% so với cùng kỳ; trong đó: sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 2,9% so với quý trước, tăng 0,9% so với cùng kỳ; Sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,2% so với quý trước, tăng 2,4% so với cùng kỳ; Sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng giảm 0,2% so với quý trước và tăng 0,7% so với cùng kỳ. Chỉ số giá bán sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2025 tăng 2,9% so với cùng kỳ. Trong đó, sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 4,6%; Sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,7%; Sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 0,3% so với cùng kỳ. b) Phía Tây Gia Lai Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2025 (-9,67%) so với cùng kỳ và (-95,34%) so với kỳ trước. Cụ thể chỉ số giá sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản như sau: + Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp quý III/2025 (-4,79%) so với quý trước; + Chỉ số giá sản xuất sản phẩm lâm nghiệp quý III/2025 so với quý trước (-1,09%) và (+2,60%) so với cùng kỳ năm trước. Nhóm sản phẩm lâm sản khai thác, thu nhặt khác từ gỗ (+2,60%) so với cùng kỳ, các sản phẩm có giá tăng do lượng thu nhặt từ rừng ít hơn, không đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường. + Chỉ số giá sản xuất sản phẩm thủy sản quý III/2025 (+1,44%) so với quý trước và (+4,10%) so với cùng kỳ. Tuy chỉ số giá sản xuất thủy sản có biến động nhưng ở mức độ nhẹ. So với quý trước, thủy sản khai thác (+0,72%); thủy sản nuôi trồng (+ 2,35%). So với cùng kỳ, thủy sản khai thác (+5,96%), thủy sản nuôi trồng (+ 1,82%). 3.4. Giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất a) Phía Đông Gia Lai Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý III/2025 tăng 3,81% so với quý trước và tăng 4,5% so với cùng kỳ. Bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 2,81% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: + Chỉ số giá nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2025 tăng 1,59% so với quý trước và tăng 2,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chỉ số giá sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 0,17% so với quý trước và tăng 1,81% so với cùng kỳ. Các mặt hàng chủ yếu tăng ở nhóm này gồm dừa khô, hạt điều và cà phê. Nguyên nhân giá dừa khô tăng cao do đang vào cuối vụ nên khan hiếm, thương lái tìm về các nhà vườn để thu mua xuất khẩu sang các nước Mỹ, Trung Quốc tăng. Giá hạt điều tăng do nhu cầu thị trường tăng cao, nguồn cung nội địa không đủ đáp ứng, trong khi giá điều thô nhập khẩu tiếp tục tăng cao. Bên cạnh đó, giá cà phê trong nước và thế giới tiếp tục tăng do hạn hán ở Brazil, nguồn cung sụt giảm và căng thẳng thương mại tại thị trường Mỹ. Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan quý III/2025 tăng 0,11% so với quý trước và tăng 0,38% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở nhóm cây lâm nghiệp giống, nguyên nhân là do đang vào mùa trồng rừng. Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm thuỷ sản khai thác, nuôi trồng quý III/2025 tăng 3,57% so với quý trước và tăng 5,14% so với cùng kỳ. + Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm từ khai khoáng quý III/2025 tăng 10,47% so với quý trước và tăng 14,82% so với cùng kỳ năm trước, do phục vụ nhu cầu xây dựng tuyến đường cao tốc, các công trình giao thông của tỉnh, các dự án chung cư Nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh,… vì vậy nên giá sản phẩm đá, cát, sỏi…tăng lên, cụ thể: Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm than cứng và than non tăng 10,33% với quý trước và tăng 11,01% so với cùng kỳ. Sản phẩm khai khoáng khác tăng 10,56% so với quý trước và tăng 16,93% so với cùng kỳ. + Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm nguyên vật liệu khác quý III/2025 tăng 3,16% so quý trước và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước. + Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí quý III/2025 tăng 8,2% so với quý trước và tăng 14,46% so với cùng kỳ. + Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm nước tự nhiên khai thác quý III/2025 tăng 9,52% so với quý trước và tăng 20,54% cùng kỳ do Công ty CP Cấp thoát nước Bình Định điều chỉnh giá bán nước sạch. + Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm xây dựng quý III/2025 tăng 4,08% so quý trước và tăng 7,75% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở các nhóm: dịch vụ hoàn thiện công trình xây dựng tăng 8,53% so với quý trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ; dịch vụ xây dựng chuyên dụng khác tăng 2,41% so với quý trước, tăng 4,71% so với cùng kỳ năm trước. + Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 11,79% so với quý trước và tăng 14,66% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 2,81% so với cùng kỳ. Chủ yếu do ảnh hưởng của các nhóm ngành sau: Chỉ số giá nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,44%; Chỉ số giá nguyên vật liệu dùng cho sản phẩm từ khai khoáng tăng 9,84%; Chỉ số giá nguyên vật liệu dùng cho sản phẩm nguyên liệu khác tăng 1,3%; Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,08%; Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm nước tự nhiên khai thác tăng 9,88%; Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm xây dựng tăng 6,85%; Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 8,24%. b) Phía Tây Gia Lai Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (+3,14%) so với quý trước và (+6,29%) so với cùng kỳ. Nhóm sản phẩm biến động chủ yếu là hồ tiêu giống và phân bón. Giá hồ tiêu có xu hướng tăng do nguồn cung toàn cầu suy giảm, trong khi nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường lớn vẫn ổn định. Bên cạnh đó, vào mùa mưa nông dân có nhu cầu trồng mới và trồng dặm tại những trụ hồ tiêu bị chết và trồng xen vào vườn cà phê, cây ăn quả kéo theo giá hồ tiêu giống cũng được đẩy lên cao. Cụ thể giá hồ tiêu giống (+7,96%) so với quý trước và (+99,55%) so với cùng kỳ. Giá phân bón tăng cao do tác động của giá phân bón trên thế giới tăng, cũng như do giá các loại nguyên liệu và chi phí đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh phân bón trong nước tăng. Việc áp thuế VAT đối với phân bón cũng tác động đến giá bán lẻ phân bón. Cụ thể giá phân bón (+7,11%) so với quý trước và (+13,71%) so với cùng kỳ. Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo (-7,83%) so với quý trước và (-6,54%) so với cùng kỳ. Nhóm sản phẩm biến động chính là giá cà phê nguyên liệu, giá sản phẩm này chịu sự chi phối bởi nhu cầu xuất – nhập khẩu của thế giới. Chỉ số giá nguyên vật liệu dùng cho xây dựng (+0,46%) so với quý trước và (+4,29%) so với cùng kỳ. Giá của nhóm cát khai thác có xu hướng tiếp tục tăng so với quý II. Nguyên nhân chính là nhu cầu xây dựng cao trong khi nguồn cung khan hiếm, các mỏ cát được cấp phép tạm dừng hàng loạt do nhiều nguyên nhân như hết hạn cấp phép, gây sạt lở, chồng lấn hoặc chủ động ngừng khai thác. Cụ thể giá cát khai thác (+4,89%) so với quý trước và (+21,24%) so với cùng kỳ. Do nhu cầu xây dựng tăng cao, bên cạnh đó phụ thuộc vào các yếu tố khác như: chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí năng lượng, nguyên liệu thô tăng cao và chi phí vận chuyển leo thang, dẫn đến giá của một số nhóm hàng như dây dẫn điện và thiết bị điện cũng tăng.4. Đầu tư và xây dựng 4.1. Đầu tư Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 05/01/2025 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, UBND tỉnh đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tăng cường quản lý, phân bổ và điều hành vốn đầu tư công, tập trung nguồn lực cho các dự án trọng điểm và công trình động lực. Trong 9 tháng năm 2025, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh duy trì mức tăng trưởng tích cực, cơ cấu vốn đa dạng, với vai trò chủ đạo của khu vực ngoài Nhà nước và sự tham gia hiệu quả của vốn FDI. Các kết quả đạt được đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao kết nối vùng, cải thiện hạ tầng và đời sống dân cư, đồng thời tạo tiền đề thuận lợi để hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025. Tổng mức thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Gia Lai 9 tháng năm 2025 ước đạt 56.067,6 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ.Hình 6. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn (9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) - Vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 19.089,8 tỷ đồng, chiếm 34,1%, tăng 17,8%. Trong đó, Vốn Nhà nước Trung ương quản lý ước đạt 8.445,7 tỷ đồng, chiếm 15,1%, tăng 62,2%; vốn Nhà nước địa phương quản lý ước đạt 10.644,1 tỷ đồng, chiếm 19%, giảm 3,2%; - Vốn ngoài Nhà nước ước đạt 35.950,1 tỷ đồng, chiếm 64,1%, tăng 3,9%. Trong đó, Vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 13.684,7 tỷ đồng, chiếm 24,4%, giảm 13,6%; vốn đầu tư của dân cư ước đạt 22.265,4 tỷ đồng, chiếm 39,7%, tăng 18,6%; - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 1.027,7 tỷ đồng, chiếm 1,8%, tăng 24,3%. Theo khoản mục đầu tư, vốn đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 45.902,9 tỷ đồng, chiếm 81,9%, tăng 13,3%; vốn đầsu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 6.245,3 tỷ đồng, chiếm 11,1%, tăng 2,7%; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản cố định ước đạt 3.411,1 tỷ đồng, chiếm 6,1%, giảm 9,3%; đầu tư bổ sung vốn lưu động ước đạt 472,8 tỷ đồng, chiếm 0,8%, giảm 63% và vốn đầu tư khác ước đạt 35,5 tỷ đồng, chiếm 0,1%, tăng 1.093,3% so với cùng kỳ. Riêng nguồn vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 9 tháng năm 2025 ước đạt 10.560 tỷ đồng, đạt 72,5% kế hoạch năm, tăng 34,2% so với cùng kỳ. Hình 7. Vốn đầu tư thực hiện nguồn vốn NSNNdo địa phương quản lý 9 tháng năm 2025 (tỷ đồng) 4.2. Xây dựng Hạ tầng giao thông hiện đại, đồng bộ luôn giữ vai trò “đi trước mở đường”, là bệ phóng quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi địa phương. Chín tháng năm 2025, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh Gia Lai tiếp tục ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của tỉnh. Chính phủ đã đẩy mạnh đầu tư công, đặc biệt là vào các dự án hạ tầng giao thông và đô thị. Nhiều dự án khu dân cư, trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học hiện đại được hình thành, vừa đáp ứng nhu cầu của người dân, vừa tạo sức hút đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Mạng lưới giao thông tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt với các tuyến cao tốc và đường ven biển, giúp rút ngắn kết nối trong nội tỉnh và với các địa phương lân cận, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển vật liệu, thi công và đưa công trình về đích đúng tiến độ. Cùng với đó, chính sách đầu tư ngày càng thông thoáng của tỉnh đã khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp. Trong 9 tháng năm 2025, nhiều công trình trọng điểm được triển khai đồng bộ như tuyến cao tốc Bắc – Nam, đường cất hạ cánh số 2 và hạ tầng Cảng hàng không Phù Cát, Khu công nghiệp Phù Mỹ, hạ tầng KCN Becamex Bình Định, tuyến đường kết nối thị xã An Nhơn đến ven biển Đầm Thị Nại, đường tránh phía Nam Phú Phong, đường hành lang kinh tế phía đông (đường tránh QL 19), đường Nguyễn Văn Linh, KCN Nam Pleiku cùng các cụm chăn nuôi công nghệ cao. Các dự án này đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng giá trị sản xuất ngành xây dựng, khẳng định vai trò động lực của hạ tầng đối với phát triển kinh tế – xã hội toàn tỉnh.5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 5.1. Tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệp Tính đến ngày 18/9/2025, toàn tỉnh có 2.311 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 64,5% so với cùng kỳ; số vốn đăng ký đạt 17.103 tỷ đồng, tăng 57,9% so với cùng kỳ; vốn bình quân một doanh nghiệp đạt 7,4 tỷ đồng. Bên cạnh đó, có 443 doanh nghiệp quay trở lại thị trường, góp phần bổ sung năng lực sản xuất kinh doanh cho nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn 1.119 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và 205 doanh nghiệp giải thể. Các số liệu cho thấy xu hướng tích cực khi số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động vượt trội so với số ngừng và giải thể, khẳng định sức hút đầu tư, sự phục hồi và niềm tin vào môi trường kinh doanh của tỉnh.Hình 8. Tình hình đăng ký doanh nghiệp(9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)6.1. Nông nghiệpa) Trồng trọt Diện tích gieo trồng lúa đạt 166.629 ha, tăng 2,2% so với năm 2025. Trong đó: + Lúa Đông Xuân: Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 73.654,1 ha, tăng 1,9% (+1.367,1 ha) so với cùng kỳ. Năng suất toàn tỉnh chính thức đạt 69,2 tạ/ha, tăng 0,3% (+0,2 tạ/ha) so với cùng kỳ, sản lượng đạt 509,5 nghìn tấn, tăng 2,2% (+11,1 nghìn tấn) so với cùng kỳ. + Lúa Vụ Hè Thu: Tổng diện tích gieo trồng lúa Vụ Hè Thu toàn tỉnh đạt 42.160,9 ha, tăng 2,7% (+1.096,8 ha) so với cùng kỳ và diện tích lúa Hè Thu đã thu hoạch xong, năng suất ước đạt 69,3 tạ/ha, tăng 0,4% (+0,3 tạ/ha) so với cùng kỳ, sản lượng ước đạt 292,2 nghìn tấn, tăng 3,2% (+9 nghìn tấn) so với cùng kỳ. + Lúa Vụ Mùa: Diện tích gieo trồng tính đến ngày 16/9/2025 đạt 54.205,3 ha, tăng 0,4% (+239,3 ha) so với cùng kỳ. Khu vực phía Tây thời tiết thuận lợi nguồn nước tưới đảm bảo, người dân tích cực chuyển đổi đất trồng hoa màu kém hiệu quả sang trồng lúa nên diện tích tăng 2,4% (+1.211 ha) so với cùng kỳ, khu vực phía Đông gieo trồng muộn hơn khu vực phía Tây. Ngoài cây lúa, toàn tỉnh đã gieo trồng các loại cây chủ lực, như sau: Cây ngô 45.020,4 ha, tăng 3,1% (+1.366,8 ha) so với cùng kỳ, cây khoai lang đạt 5.306 ha, giảm 33,1 % (-2.621,3 ha) so với cùng kỳ, đậu tương đạt 79,7 ha, giảm 0,6 % (-0,5 ha) so với cùng kỳ, cây lạc 13.722,5 ha giảm 1,6% (-229,8 ha) so với cùng kỳ, rau các loại 47.471,6 ha, giảm 2,0% (-965,9 ha) so với cùng kỳ, đậu các loại 23.415,6 ha, tăng 1,7% (+399,6 ha) so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm diện tích do một số cây gieo trồng muộn so với cùng kỳ, các hộ dân thực hiện thực hiện luân canh cây trồng nhằm duy trì độ phì nhiêu của đất và tối ưu hóa hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Hình 9. Diện tích gieo trồng một số loại cây (9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)Hình 10. Số lượng đầu con gia súc, gia cầm(Tháng 9 năm 2025 so với cùng kỳ)Hình 11. Tình hình lâm nghiệp(9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Hình 12. Sản lượng thủy sản (9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) 7.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) So với tháng trước, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 năm 2025 tăng 2,19%. Trong đó, ngành Công nghiệp khai khoáng giảm 8,18%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,3%; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 7,23%; Hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,18%. So với cùng kỳ, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 năm 2025 tăng 8,94%. Trong đó, ngành Công nghiệp khai khoáng giảm 16,83%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,44%; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 16,17%; Hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,07%. Tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh Gia Lai 9 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,51% so với cùng kỳ, xu hướng tháng sau tăng cao hơn tháng trước. Cụ thể: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,7%, phản ánh sự suy giảm ở mảng quặng kim loại nhưng có sự bù đắp từ khai khoáng khác. Cụ thể, khai thác quặng kim loại giảm rất mạnh (-93,96%) do trữ lượng suy kiệt, một số mỏ ngừng hoạt động, khiến sản lượng gần như không đáng kể. Trong khi đó, nhóm khai khoáng khác tăng 4,4%, chủ yếu nhờ khai thác đá, cát, đất sét phục vụ nhu cầu xây dựng hạ tầng, đặc biệt là các công trình trọng điểm sau sáp nhập. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,78%, là trụ cột chính của tăng trưởng công nghiệp. Trong đó, nhóm ngành tăng cao như: Chế biến thực phẩm; Sản xuất trang phục; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn.Hình 13. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo(9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) - Ngành chế biến thực phẩm tăng 9,32% do một số sản phẩm tăng như: Thức ăn gia súc tăng 7,29%; thức ăn gia cầm tăng 15,44% do sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới, thúc đẩy sản xuất và cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi. Nhóm thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng cao do bổ sung thêm 01 doanh nghiệp chế biến tôm đông lạnh, góp phần chính thúc đẩy sản lượng tôm đông lạnh tăng 141,14%; Phi lê cá tăng 13,27% so với cùng kỳ. Sản phẩm sữa và kem tăng 12,19% do Công ty cổ phần thực phẩm dinh dưỡng Nutifood Cao Nguyên có lượng sữa sản xuất tăng cao so với cùng kỳ. Ngành mía đường Gia Lai đang phục hồi mạnh nhờ Chính phủ và Bộ Công Thương duy trì biện pháp phòng vệ thương mại, giữ giá đường ổn định, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng đầu tư, góp phần thúc đẩy sản lượng đường RS tăng cao 20,78% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, một số sản phẩm giảm sản lượng: Tinh bột sắn giảm 5,07%; Đường RE giảm 3,61%; nước cam, chanh, quít, bưởi tươi giảm 19,86%. - Sản xuất đồ uống giảm 2,39%, chủ yếu sản lượng bia đóng chai giảm 8,86% so với cùng kỳ. - Ngành sản xuất trang phục tăng 14,23%, phản ánh sự ổn định và phát triển của ngành may mặc trong tỉnh. Đây là một trong những điểm sáng nổi bật của hoạt động công nghiệp trong 9 tháng năm 2025. - Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 27,9%, đóng góp chính từ sản phẩm gạch ốp lát tăng rất mạnh (+174,26%). Nguyên nhân do có 2 dự án có vốn đầu tư lớn đi vào hoạt động gồm Công ty cổ phần Takao Bình Định và Công ty CP Công nghiệp Kamado. - Ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 7,07%, nổi bật là sản phẩm ống thép với mức tăng 36,69%. Mức tăng này chủ yếu đến từ việc doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất trong những tháng đầu năm nhằm tận dụng nguyên liệu tồn kho. Tuy nhiên, đà tăng trưởng của ngành đang có dấu hiệu chững lại do nhu cầu tiêu thụ suy giảm, chịu ảnh hưởng từ những biến động bất ổn của thị trường cả trong nước và quốc tế. - Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 1,86% so với cùng kỳ và có xu hướng tăng chậm lại so với các tháng cuối năm 2024 và đầu năm 2025. Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế trên địa bàn tỉnh Gia Lai đang đối mặt với nhiều khó khăn do ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách thuế thương mại của Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam. Là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành, việc Mỹ chính thức áp thuế 20% đã khiến các doanh nghiệp lâm vào tình trạng giảm đơn hàng, kéo theo sản lượng sản xuất và tốc độ tăng trưởng chững lại. Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 15,9%. Sản lượng điện tăng trưởng mạnh, chủ yếu nhờ vào sản lượng thủy điện, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng ngành, tăng 21,16% so với cùng kỳ do mở rộng nhà máy thủy điện Yaly với vốn đầu tư 6.398 tỷ đồng, công suất thiết kế 360 MW. Ngoài ra, mùa mưa đến sớm, lượng nước dồi dào giúp các hồ chứa tích trữ tốt, nâng cao hiệu suất phát điện. Điện gió cũng ghi nhận mức tăng 25,24% nhờ điều kiện gió thuận lợi. Điện mặt trời tăng nhẹ 0,9% do thời tiết nhiều mây và sự cắt giảm huy động điện mặt trời trong một số thời điểm. Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,45%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 4,24%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 33,14%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 16,72% do đầu tư kinh phí để tăng tần suất và mở rộng phạm vi thu gom trên địa bàn tỉnh.Hình 14. Một số chỉ số chủ yếu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Hình 15. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Hình 16. Xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2025 tỉnh Gia Lai Hình 17. Xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2025 phía Đông Gia Lai Hình 18. Thị trường xuất khẩu hàng hóa trực tiếp 9 tháng năm 2025 phía Đông Gia Lai (so với cùng kỳ năm 2024) Hình 19. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển vận tải hành khách, hàng hóa (9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Hình 20. Doanh thu vận tải hành khách, hàng hóa (9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)Hình 21. Tình hình tai nạn giao thống 9 tháng năm 2025
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG, CHỈ SỐ GIÁ VÀNG VÀ CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ THÁNG CHÍN NĂM 2025 CỦA TỈNH GIA LAI
- 01/10/2025 10:45
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Gia Lai tháng 9 năm 2025 tăng 0,2% so tháng trước; tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; tăng 3,5% so với tháng 12 năm trước. Bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 0,2% của CPI tháng Chín so với tháng trước, có 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng; 4 nhóm hàng có chỉ số giá ổn định. Diễn biến cụ thể từng nhóm hàng so với tháng trước như sau: Bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: - Nhóm có chỉ số tăng cao nhất là nhóm giao thông tăng 0,6%, nguyên nhân tăng do sự điều chỉnh giá xăng dầu của Liên Bộ Công thương - Tài chính; - Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 0,3%, tăng chủ yếu điện sinh hoạt tăng 1% do thời tiết nắng nóng người dân sử dụng điện tăng; - Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,3%, tăng chủ yếu do đồ trang sức bằng vàng tăng 7,9% tăng theo giá vàng thị trường; - Nhóm giáo dục tăng 0,2%, nguyên nhân do vào năm học mới đồ dùng học tập, bút viết các loại tăng 0,5%, do nhu cầu mua thêm đồ dùng học tập mới cho học sinh tăng hơn; - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,1%; trong đó, thực phẩm tăng 0,2% tăng chủ yếu ở các mặt hàng sau: thịt gia súc tăng 0,1% do giá lợn hơi tăng nhẹ. Bên cạnh đó, thịt gia cầm tăng 0,9% do nhu cầu tiêu thụ mạnh trong dịp lễ 2/9 và một số người dân vẫn chọn thịt gia cầm để thay thế thịt lợn. Thủy sản tươi sống tăng 0,2%; các loại đậu và hạt tăng 0,4%; rau tươi khô và chế biến tăng 0,1%, quả tươi, chế biến tăng 0,5%...; - Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%, nguyên nhân chủ yếu do rượu bia tăng 0,3%, do chi phí bán ra của đại lý tăng; - Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,1%, do nhu cầu mua sắm cho học sinh nhập học tăng. Bốn nhóm hàng có chỉ số giá ổn định gồm: thiết bị và đồ dùng gia đình; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; hàng hóa và dịch vụ khác. Giá vàng tại địa phương tháng 9 năm 2025 tăng 7,6% so với tháng trước, do tăng giá vàng thế giới tăng. Giá đô la Mỹ bình quân tháng 9 năm 2025 tăng 0,4% so tháng trước./.
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 8 VÀ 8 THÁNG NĂM 2025
- 03/09/2025 09:04
Sau khi hợp nhất, tỉnh Gia Lai đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 đạt 7,3 - 7,7%, nỗ lực phấn đấu đạt mức tăng trưởng 8%. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã phân giao chỉ tiêu kinh tế - xã hội cho 135 xã, phường. Hiện tại, các địa phương đang tăng tốc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch 6 tháng cuối năm 2025 do UBND tỉnh giao. Đây cũng là lần đầu tiên các địa phương khu vực phía Tây Gia Lai được giao chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nhiệm vụ cụ thể, đánh dấu bước chuyển mới trong phương thức điều hành, phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng xã, phường; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; chủ động kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của người dân và doanh nghiệp. Trong tháng 8/2025, tỉnh Gia Lai tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2025, nhất là các chỉ tiêu, giải pháp, nhiệm vụ chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; Theo dõi sát tình hình thực tiễn, xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh. Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2025 có những kết quả nổi bật như sau: - Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn tháng 8 năm 2025 nông dân tập trung chăm sóc, thu hoạch vụ Đông Xuân, lúa vụ Hè Thu; triển khai sản xuất vụ Mùa theo kế hoạch. Tỉnh Gia Lai đang triển khai quyết liệt các biện pháp phòng chống dịch bệnh trên gia súc, phòng chống dịch bệnh động vật; Tiếp tục triển khai các giải pháp để khắc phục cảnh báo của Ủy ban châu Âu về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU); Triển khai công tác phòng chống cháy rừng, giải quyết nước cho sản xuất, nước cho sinh hoạt của người dân ở những vùng khó khăn nguồn nước; - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 8/2025 giảm 1,15% so với tháng trước và tăng 6,8% so với cùng kỳ; luỹ kế 8 tháng năm 2025 tăng 9,02% so với cùng kỳ; - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2025 ước đạt 18.210,6 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 23,3% so với cùng kỳ; luỹ kế 8 tháng năm 2025 ước đạt 132.308 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ; - Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu (Gia Lai Đông) tháng 8/2025 ước đạt 201,9 triệu USD, tăng 0,62% so với tháng trước, giảm 3,2% so với cùng kỳ; Lũy kế 8 tháng năm 2025 kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 1.533,0 triệu USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ; - Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 8/2025 ước đạt 1.365 nghìn TTQ, tăng 1,8% so với tháng trước, tăng 19,4% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2025 ước đạt 9.540,5 nghìn TTQ, giảm 2,5% so với cùng kỳ; - Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2025 tăng 0,66% so với tháng trước, tăng 4,37% so với cùng kỳ và tăng 3,36% so với tháng 12 năm 2024; bình quân 8 tháng năm 2025 tăng 3,82% so với cùng kỳ; Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản ổn định. Cụ thể tình hình sản xuất kinh doanh một số lĩnh vực như sau:1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 8, trọng tâm sản xuất nông nghiệp của tỉnh Gia Lai là tiến hành thu hoạch lúa vụ Hè Thu, tập trung gieo trồng, chăm sóc lúa và các loại cây hoa màu vụ Mùa năm 2025. Đồng thời phát triển đàn vật nuôi, đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao, đa dạng giống nuôi, công tác tái đàn được quan tâm đầu tư; triển khai quyết liệt các biện pháp phòng chống, ngăn chặn dịch tả lợn Châu Phi và các loại dịch bệnh khác trên gia súc, gia cầm. Bên cạnh đó, Tỉnh đã triển khai thực hiện các giải pháp cấp bách về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) và các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác xa bờ, triển khai công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, phát triển trồng rừng sản xuất.2. Sản xuất công nghiệp Trong thời gian qua, UBND tỉnh Gia Lai đã kịp thời chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp trên địa bàn. Tỉnh chỉ đạo tập trung rà soát, điều chỉnh và bổ sung các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề. Đồng thời, chú trọng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh; theo dõi, đôn đốc tiến độ triển khai các dự án công nghiệp trọng điểm, bảo đảm thực hiện đúng kế hoạch. Nhờ đó, hoạt động sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2025 của tỉnh Gia Lai ghi nhận nhiều khởi sắc, tăng 9,02% so với cùng kỳ. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2025 đã đề ra.3. Đầu tư Năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tăng tốc, bứt phá nhằm hoàn thành các mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021–2025. Đồng thời, đây cũng là năm tỉnh Gia Lai triển khai thực hiện mô hình chính quyền hai cấp (tỉnh và xã) theo chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Việc chuyển đổi mô hình này tác động sâu sắc đến công tác quản lý đầu tư công, nhất là trong cơ chế phân bổ và điều hành vốn. Trước yêu cầu mới, tỉnh thực hiện đổi mới quản lý đầu tư công theo hướng phân cấp mạnh, tăng cường trách nhiệm và tính chủ động của cơ sở; đồng thời rà soát, cơ cấu lại danh mục dự án, tập trung vốn cho các công trình trọng điểm, dự án chuyển tiếp và sớm hoàn thành, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách. Tám tháng năm 2025, công tác giải ngân vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh Gia Lai đạt được kết quả tích cực.4. Hoạt động ngân hàngƯớc tính đến cuối tháng 8/2025, tổng số dư huy động của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh ước đạt 200.410 tỷ đồng, tăng 17,2 % so với cùng kỳ và tăng 10,2% so với tháng 12/2024. Tổng dư nợ cho vay tính đến 31/8/2025 ước đạt 236.700 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ và tăng 0,1% so với tháng 12/2024.Ước tính đến 31/8/2025 nợ xấu trên địa bàn chiếm tỷ lệ 1,61% so với tổng dư nợ. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 8/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa tỉnh Gia Lai tiếp tục tăng trưởng ổn định, nguyên nhân chính là do lượng khách tham quan du lịch đến tỉnh tăng khá, đồng thời nhu cầu mua sắm của người dân cho con em chuẩn bị đón năm học mới 2025-2026 cao hơn hẳn các tháng trước đó. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2025 ước đạt 18.210,6 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 23,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2025 ước đạt 132.308 tỷ đồng, tăng 12,0% so với cùng kỳ, trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 98.256,3 tỷ đồng, tăng 10,2%, chiếm 74,3% trong tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng; hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 20.244,2 tỷ đồng, tăng 18,3%, chiếm 15,3%; du lịch lữ hành ước đạt 898,9 tỷ đồng, tăng 19,0%, chiếm 0,7%; dịch vụ khác ước đạt 12.908,6 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, chiếm 9,7%. 5.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóaKinh tế thế giới năm 2025 được dự báo vẫn phải đối mặt với nhiều rủi ro thách thức như xung đột và căng thẳng địa chính trị, thuế đối ứng của Mỹ, lạm phát đang hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao, rủi ro lãi suất tăng và biến động tỷ giá hối đoái. Trước những thách thức này, doanh nghiệp trong tỉnh không ngừng nỗ lực để thích ứng, vừa giữ vững thị trường truyền thống, vừa chủ động mở rộng sang các thị trường mới tiềm năng. Song song đó với sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát từ Lãnh đạo tỉnh, các doanh nghiệp đã tận dụng triệt để các Hiệp định thương mại tự do (FTA) nhằm nâng cao sức cạnh tranh, không ngừng đổi mới sản phẩm, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tiếp cận mở rộng thêm thị trường mới và góp phần duy trì đà tăng trưởng ổn định cho kinh tế tỉnh. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hoá 8 tháng năm 2025 vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. 5.3. Vận tải hành khách và hàng hóaHoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tháng 8 tăng khá chủ yếu do nhu cầu đi lại của cán bộ công chức do sáp nhập tỉnh, kỳ nghỉ lễ Quốc Khánh 02/9 kéo dài (từ ngày 30/8-02/9) nên lượt khách tham quan du lịch cũng tăng cao góp phần thúc đẩy doanh thu chung của ngành vận tải kho bãi so với tháng trước và so với cùng kỳ. 6. Giá cả 6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Gia Lai tháng 8 năm 2025 tăng 0,66% so với tháng trước; tăng 4,37% so với cùng kỳ năm trước; tăng 3,36% so với tháng 12 năm trước; bình quân 8 tháng năm 2025 tăng 3,82% so với cùng kỳ.6.2. Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Thị trường vàng trong nước vừa trải qua kỳ giao dịch đầy biến động. Nguyên nhân chính khiến giá vàng trong nước biến động trong tuần qua là do giá vàng thế giới giảm. Giá vàng biến động là do thị trường vàng thế giới chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm lo ngại về suy thoái kinh tế toàn cầu, căng thẳng địa chính trị và chính sách tiền tệ của các ngân hàng Trung ương.Tháng 8 năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 0,88% so với tháng trước; tăng 48,11% so với cùng kỳ và bình quân 8 tháng năm 2025 tăng 44,19% so với bình quân cùng kỳ.Tỷ giá USD tại các ngân hàng trong nước tăng đồng loạt ở cả hai chiều mua bán. Đồng đô la Mỹ tăng giá so với hầu hết các loại tiền tệ chính sau khi dữ liệu bán lẻ tốt hơn dự kiến. Chỉ số Đô la Mỹ tháng 8/2025 tăng 0,31% so với tháng trước, tăng 4,31% so với cùng kỳ năm 2024 và chỉ số giá vàng bình quân 8 tháng năm 2025 tăng 3,44% so với cùng kỳ.7. Các vấn đề xã hộiNgành Y tế đã duy trì tốt hoạt động kiểm tra, giám sát dịch tễ, và quản lý đối tượng có nguy cơ. Các hoạt động kiểm soát và phòng, chống một số bệnh xã hội (lao, tâm thần, HIV/AIDS), một số bệnh không lây nhiễm (tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, đái tháo đường, rối loạn thiếu iốt), bệnh nghề nghiệp, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính,.. được ngành Y tế phối hợp với các địa phương triển khai thực hiện đúng tiến độ, đạt yêu cầu đề ra.Trong tháng 8/2025 (từ ngày 15/7/2025 đến ngày 14/8/2025), trên địa bàn tỉnh xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, giảm 6,1% (-3 vụ) so với tháng trước và giảm 39,5% (- 30 vụ) so với cùng kỳ; làm 38 người chết, giảm 15,6% (-7 người) so với tháng trước và tăng 22,6% (+7 người) so với cùng kỳ năm trước; làm 27 người bị thương, tăng 42,1% (+8 người) so với tháng trước và giảm 50,0% (-27 người) so với cùng kỳ năm trước.Trong tháng, ngành Giáo dục đã tập trung thực hiện tốt các công tác chính, nổi bật là hoàn thành công tác tuyển sinh các lớp đầu cấp năm học 2025-2026, tổ chức Hội nghị tổng kết năm học và Lễ tuyên dương học sinh giỏi năm học 2024- 2025, hoàn thành công tác bồi dưỡng chính trị, chuyên môn cho giáo viên trong hè, triển khai nhiệm vụ năm học 2025-2026; chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ để khai giảng năm học 2025-2026.Về Văn hóa: Trong tháng 8/2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Triển khai đến các xã, phường, các bảo tàng về việc tăng cường quản lý, bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, phối hợp với các đơn vị liên quan đề xuất xây dựng Khung nhiệm vụ triển khai Chương trình nghiên cứu tổng thể toàn diện Di tích khảo cổ Rộc Tưng - Gò Đá, đá cũ An Khê; tham gia góp ý dự thảo Thông tư quy định định mức kinh tế - kỹ thuật nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hoá phi vật thể và tổ chức thực hành, trình diễn và truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể...Về thể dục, thể thao: Triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển thể thao giai đoạn 2021 - 2025, đề xuất phương hướng xây dựng Đề án phát triển thể thao giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2045. Chủ trương các đội tuyển thể thao của tỉnh tham gia các giải quốc gia, khu vực: Giải Vô địch Wushu các đội mạnh quốc gia, Giải Điền kinh Vô địch quốc gia, Giải Cờ vua Miền Trung - Tây Nguyên mở rộng, Giải Vô địch Võ cổ truyền quốc gia lần thứ 34,…Vi phạm môi trường: Trong tháng 8/2025, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ vi phạm môi trường; Lũy kế bảy tháng năm 2025, đã phát hiện 127 vụ vi phạm môi trường, giảm 31,4% (- 58 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 103 vụ, giảm 43,1% (- 78 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 947,5 triệu đồng, giảm 3,4% (- 33,3 triệu đồng).Tình hình thiên tai: Trong tháng 8/2025, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã xảy ra 07 vụ thiệt hại do mưa giông, sét làm thiệt hại 10 ngôi nhà kiên cố, 8 ngôi nhà bị tốc mái hư hỏng nặng, 1,2 ha chanh dây bị sập giàn, 02 xe máy bị hư hỏng, diện tích tường rào bị sập 85,8m2. Ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 311,0 triệu đồng.
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG, CHỈ SỐ GIÁ VÀNG VÀ CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ THÁNG TÁM VÀ 8 THÁNG NĂM 2025 CỦA TỈNH GIA LAI
- 29/08/2025 10:39
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm 2025 của tỉnh Gia Lai tăng 0,7% so với tháng trước; tăng 3,4% so với tháng 12/2024; tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân tám tháng năm 2025 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 0,7% của CPI tháng Tám so với tháng trước, có 04 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng; 5 nhóm hàng có chỉ số giá ổn định; 02 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm. Bốn nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: - Nhóm hàng nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 4,2%, nguyên nhân do tăng chỉ số điện, nước, giá nhà thuê, giá vật liệu xây dựng tăng cao ảnh hưởng đến chỉ số tăng của nhóm hàng này. - Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,4%, tác động chính tới nhóm hàng này do chuẩn bị vào năm học mới; vì vậy hàng may mặc tăng 0,2%, giày dép tăng 0,7%, dịch vụ may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,6%. - Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%, do giá nước khoáng tăng. - Nhóm văn hóa, giải trí và dịch vụ khác tăng 0,1%, do giá cây, hoa cảnh tăng. Năm nhóm hàng có chỉ số giá ổn định gồm: thiết bị và đồ dùng gia đình; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục; hàng hóa và dịch vụ khác. Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,3%, do tác động giảm giá gạo và thịt gia súc. Nguyên nhân chỉ số lương thực giảm 0,2% so với tháng trước, chủ yếu giá gạo giảm (vì xuất khẩu mặt gạo chậm đã tác động đến giá gạo nội địa giảm theo); Chỉ số giá thực phẩm giảm 0,5% so với tháng trước, do giá nhóm thịt gia súc giảm 4%, nguyên nhân chủ yếu giá thịt lợn giảm sâu. Giá thịt lợn giảm đã ảnh hưởng đến nhóm thịt chế biến giảm 2,5%; bên cạnh đó, giá của các sản phẩm rau, quả phong phú, nguồn hàng dồi dào, vì vậy lần lượt giảm như: rau tươi khô và chế biến giảm 0,1%; quả tươi chế biến giảm 1,3%...Một số mặt hàng thuộc nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống - Nhóm giao thông giảm 0,2%, do giá xăng dầu giảm; nhưng dịch vụ giao thông công cộng tăng, trong đó vận tải hành khách bằng đường sắt và vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng nhẹ 0,03%. Giá vàng tại địa phương tháng Tám tăng 0,9% so tháng trước, do giá vàng thế giới tăng. Giá đô la Mỹ bình quân tháng Tám tăng 0,3% so tháng trước.
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 7 VÀ 7 THÁNG NĂM 2025
- 04/08/2025 08:13
Tháng 7 năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ngày 01/7/2025 là thời điểm thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy trên cả nước. Tỉnh Gia Lai mới được sáp nhập từ hai tỉnh Bình Định và Gia Lai (cũ) với 135 xã, phường (trước đây tỉnh Bình Định có 155 xã, phường, thị trấn; tỉnh Gia Lai có 218 xã, phường, thị trấn). Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra một không gian phát triển mới, toàn diện và sâu rộng cho vùng đất giàu bản sắc văn hóa, giàu tài nguyên du lịch và đầy khát vọng vươn lên. Tỉnh Gia Lai sau sáp nhập, sở hữu quy mô diện tích và dân số lớn, đồng thời hội tụ nhiều tiềm năng, lợi thế chiến lược để phát triển nhanh và bền vững. Trong tháng 7, các ngành, các địa phương vừa thực hiện ổn định tổ chức, bộ máy, vừa tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 6 tháng cuối năm 2025 với quyết tâm hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu.Các ngành, các địa phương trong tỉnh đã bám sát và thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh để cụ thể hóa thành kế hoạch, nhiệm vụ, lộ trình thực hiện của từng cơ quan, đơn vị, đảm bảo tinh thần “6 rõ: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”. Phát huy tối đa các nguồn lực, tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt, đổi mới, tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; chủ động kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của người dân và doanh nghiệp. Rà soát, tiến hành phân giao chỉ tiêu, nhiệm vụ, nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội cho 135 xã, phường mới.Tình hình sản xuất kinh doanh một số lĩnh vực như sau:1. Sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sảnNông nghiệpTrong tháng 7, tỉnh Gia Lai tập trung chăm sóc và thu hoạch lúa vụ Hè Thu, đồng thời triển khai sản xuất vụ Mùa. Theo kết quả ước tính, diện tích gieo trồng lúa Hè Thu đạt 42.162,7 ha, tăng 2,7% so với cùng kỳ, nhưng diện tích thu hoạch giảm 46,6% (2.789 ha) do vụ Đông Xuân gieo sạ muộn. Đối với lúa vụ Mùa, diện tích gieo trồng đến ngày 23/7 đạt 45.581 ha, tăng 10% so với cùng kỳ, nhờ đảm bảo nguồn nước tưới và sự tích cực của nông dân tại các xã như Phú Thiện, Biển Hồ, Ia Tul, và Ia Pa. Tuy nhiên, một số cây trồng cạn có diện tích giảm nhẹ: ngô (-0,3%), lạc (-1,2%), rau các loại (-2,3%), trong khi đậu các loại tăng nhẹ (+0,1%).Hình 1. Tình hình sản xuất nông nghiệp(Đến ngày 20/7/2025 so với cùng kỳ)Về chăn nuôi, đàn bò đạt 803.299 con (+3,1%), đặc biệt bò sữa tăng mạnh 71,6% (23.970 con). Đàn gia cầm đạt 17.068,7 nghìn con (+2,5%), trong đó đàn gà tăng 4,9%. Tuy nhiên, đàn trâu giảm 3,4% (26.941 con) và đàn lợn giảm nhẹ 0,1% (1.411.652 con). Tỉnh cũng đẩy mạnh các biện pháp phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm để đảm bảo an toàn tái đàn.Hình 2. Số lượng đầu con gia súc, gia cầm(Tháng 7 năm 2025 so với cùng kỳ)Lâm nghiệpSản xuất lâm nghiệp duy trì đà tăng trưởng, với sản lượng gỗ khai thác tháng 7 ước đạt 115.566 m³ (+1,8%), lũy kế 7 tháng đạt 868.775,2 m³ (+3,5%). Diện tích trồng rừng tập trung đạt 1.590,7 ha, giảm 9,9% so với cùng kỳ. Công tác quản lý và phòng cháy chữa cháy rừng được chú trọng, không ghi nhận vụ cháy rừng nào trong 7 tháng. Số vụ vi phạm phá rừng giảm 12,5% (35 vụ), với diện tích thiệt hại giảm 51,3% (8,6 ha).Hình 3. Tình hình lâm nghiệp(7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ) Thủy sảnSản lượng thủy sản tháng 7 đạt 26.689,6 tấn (+2,6%), lũy kế 7 tháng đạt 176.269,3 tấn (+2,4%). Trong đó, khai thác thủy sản biển tăng 2,6% (167.602,9 tấn), với sản lượng cá (+2,5%), tôm (+3,4%), và các loại thủy sản khác (+3,3%). Sản lượng nuôi trồng thủy sản giảm nhẹ 0,6% (8.666,5 tấn). Tỉnh tiếp tục thực hiện các biện pháp chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) và hỗ trợ ngư dân khai thác xa bờ.Hình 4. Sản lượng khai thác thủy sản biển chia theo loại con(7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)2. Sản xuất Công nghiệpChỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 7 tháng tăng 8,9% so với cùng kỳ, dù tháng 7 giảm nhẹ 0,8% so với tháng trước do một số ngành gặp khó khăn. Ngành chế biến, chế tạo tăng 8,26%, với các nhóm nổi bật như chế biến thực phẩm (+9,4%), sản xuất gỗ, gạch ốp lát (+176,03%), và cấu kiện thép (+46,55%). Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,23%, chủ yếu nhờ thủy điện (+15,97%) và điện gió (+18,51%), trong khi điện mặt trời giảm nhẹ (-0,67%). Ngành khai khoáng tăng 3,14%, nhưng khai thác quặng kim loại giảm mạnh (-93,87%) do một số mỏ tạm dừng hoạt động.Chỉ số sử dụng lao động tháng 7 giảm 1,57% so với tháng trước, nhưng tăng 3,14% so với cùng kỳ. Các ngành chế biến, chế tạo (+3,23%) và sản xuất điện (+3,43%) ghi nhận tăng trưởng lao động tích cực.Hình 5. Tốc độ tăng Chỉ số sản xuất công nghiệp(7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)3. Đầu tưVốn đầu tư công do địa phương quản lý 7 tháng đạt 7.514,1 tỷ đồng (+34,6%), đạt 51,6% kế hoạch năm. Trong đó, vốn cấp tỉnh đạt 7.185,9 tỷ đồng (+41,2%), vốn cấp xã đạt 328,2 tỷ đồng (-33,6%). Các dự án trọng điểm như cao tốc Quy Nhơn – Pleiku, đường cất hạ cánh số 2 sân bay Phù Cát, và các tuyến giao thông liên tỉnh đang được đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và khởi công. Tỉnh cũng tập trung giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý (7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)4. Hoạt động Ngân hàngTổng dư huy động đến cuối tháng 7 đạt 205.786 tỷ đồng (+20,6%), dư nợ cho vay đạt 243.100 tỷ đồng (+10,2%). Tỷ lệ nợ xấu duy trì ở mức 1,44%, phản ánh sự ổn định trong hoạt động tín dụng.Hình 6. Hoạt động ngân hàng(Đến 31/7/2025 so với cùng kỳ)5. Thương mại, dịch vụTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 7 tháng đạt 114.873,3 tỷ đồng (+11,1%). Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 85.763,1 tỷ đồng (+9,4%), dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 17.174,9 tỷ đồng (+16,5%), du lịch lữ hành đạt 729,2 tỷ đồng (+18,7%). Tháng 7, doanh thu lưu trú tăng 26,4% và ăn uống tăng 26,4%, nhờ các sự kiện du lịch như Giải Võ cổ truyền Bình Định, các chương trình quảng bá tại TP.HCM và Hà Nội, cùng các hoạt động văn hóa như biểu diễn cồng chiêng và thi đan lát, dệt thổ cẩm. Hình 7. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 7 tháng đạt 10.971 tỷ đồng (+7,6%). Vận chuyển hành khách tăng 13,7% (47,499 nghìn hành khách), vận chuyển hàng hóa tăng 11,7% (31,623 nghìn tấn). Đường bộ là phương thức vận tải chủ đạo, chiếm phần lớn doanh thu. Hình 8. Doanh thu vận tải hành khách, hàng hóa (7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)6.Giá cảChỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ bình quân 7 tháng năm 2025 tăng 4,17% so với cùng kỳ, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 9 nhóm tăng giá so với tháng trước. Tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 24,77%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,28%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 6,11%; kế tiếp nhóm giáo dục tăng 4,94%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,77%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,02%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,59%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng nhẹ 0,88%; Ngược lại có 2 nhóm giảm: nhóm giao thông giảm 3,84% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,57%Hình 9. Chỉ số CPI bình quân 7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ7. Các vấn đề xã hộiSố vụ tai nạn giao thông 7 tháng giảm 28,5% (424 vụ), nhưng số người chết tăng 4,3% (316 người). Số vụ vi phạm môi trường giảm 31,4% (127 vụ), với 103 vụ được xử lý và tổng tiền phạt 947,5 triệu đồng.Hình 10. Tình hình tai nạn giao thông (7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)Hình 11. Vi phạm môi trường(7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ)Tỉnh Gia Lai sau sáp nhập đang tận dụng lợi thế về quy mô, tài nguyên, và vị trí chiến lược để thúc đẩy phát triển toàn diện. Với sự chỉ đạo quyết liệt và tinh thần đổi mới, tỉnh đang từng bước vượt qua thách thức, hướng tới hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2025, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững trong tương lai.