Mô hình tăng trưởng mới: Mở đường băng cho khát vọng tăng trưởng 2 con số


Phóng viên: Thưa ông, thời gian qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhiều chuyên gia kinh tế nhắc đến nhiều câu chuyện nền kinh tế Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ tăng trưởng kinh tế theo quy mô chiều rộng sang tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Vậy xin ông cho biết rõ hơn về khái niệm giữa hai mô hình tăng trưởng này?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Có thể hiểu một cách ngắn gọn, tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động và khai thác tài nguyên; còn tăng trưởng theo chiều sâu là tăng trưởng dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong giai đoạn đầu phát triển, hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đều trải qua mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Nhờ huy động mạnh mẽ vốn đầu tư, tận dụng lợi thế lao động dồi dào, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài. Đây cũng là mô hình đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ một nước nghèo trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và quy mô kinh tế thuộc nhóm lớn trong khu vực với quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỷ USD xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN.
Tuy nhiên, mô hình này có những giới hạn nhất định. Khi lao động giá rẻ dần mất đi do già hóa dân số, tài nguyên ngày càng hạn chế và hiệu quả đầu tư giảm dần, việc tiếp tục duy trì tăng trưởng cao chỉ bằng cách tăng vốn và lao động sẽ ngày càng khó khăn. Đây là thách thức mà nhiều quốc gia đang phát triển đã gặp phải khi bước vào giai đoạn thu nhập trung bình.
Trong khi đó, tăng trưởng theo chiều sâu tập trung vào nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Cùng một lượng vốn và lao động nhưng nền kinh tế có thể tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn nhờ ứng dụng công nghệ mới và đổi mới phương thức sản xuất.
Xét về bản chất, sự khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình nằm ở vai trò của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Nếu tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn và lao động thì tăng trưởng theo chiều sâu dựa nhiều hơn vào TFP, tức là phần tăng trưởng được tạo ra từ tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Đối với Việt Nam, việc chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu là yêu cầu khách quan và cấp thiết để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới. Đây cũng là lý do Đại hội XIV của Đảng xác định cần xây dựng mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu.

Phóng viên: Ông có thể nói gì về quá trình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam trong thời gian qua? Mô hình tăng trưởng này của Việt Nam chủ yếu dựa vào những động lực nào, đâu là dấu hiệu cho thấy mô hình đó đã tới hạn và những rủi ro sẽ phải đối mặt nếu chúng ta tiếp tục duy trì thực hiện?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Sau Đổi mới, Việt Nam là một trong những quốc gia vận dụng khá thành công mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Trong điều kiện xuất phát điểm thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ và hạ tầng còn yếu kém, việc huy động tối đa các nguồn lực sẵn có đã giúp nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ba động lực chính của mô hình này là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mở rộng đầu tư của Nhà nước và khai thác lợi thế lao động giá rẻ. Nhờ đó, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7%/năm trong giai đoạn 1990-2010 và chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình từ năm 2008.
Tuy nhiên, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần suy giảm hiệu quả và bộc lộ những giới hạn khách quan của giai đoạn phát triển mới. Hiệu quả sử dụng vốn có xu hướng giảm khi hệ số ICOR tăng từ khoảng 4 lần lên trên 6 lần, thậm chí có giai đoạn vượt 8 lần; nghĩa là nền kinh tế phải bỏ ra nhiều vốn hơn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng. Trong khi đó, đóng góp của TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2001-2010 chỉ khoảng 10%, cho thấy tăng trưởng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào vốn và lao động.
Bên cạnh đó, khu vực FDI đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam; tuy nhiên, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước và lan tỏa công nghệ còn chưa tương xứng với tiềm năng. Năng lực công nghệ nội sinh, hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và khả năng tham gia vào các khâu có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Đồng thời, lợi thế lao động giá rẻ đang giảm dần khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số, còn dư địa mở rộng đầu tư ngày càng thu hẹp. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực cũ, nền kinh tế sẽ khó duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và đối mặt với nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Đây chính là lý do Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Phóng viên: Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam xác định chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Ông có thể nói rõ hơn về các động lực tăng trưởng của mô hình mới thay thế mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động giá rẻ?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Xét dưới góc độ kinh tế học, bản chất của mô hình tăng trưởng mới là chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Thành công của mô hình tăng trưởng mới sẽ được phản ánh tập trung thông qua sự gia tăng của TFP. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn, lao động, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.
Nếu mô hình tăng trưởng trước đây hướng tới mở rộng quy mô nguồn lực thì mô hình mới hướng tới tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực thông qua tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Động lực trung tâm của mô hình này là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khoa học công nghệ tạo ra tri thức và công nghệ mới; đổi mới sáng tạo chuyển các tri thức đó thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới; còn chuyển đổi số giúp lan tỏa nhanh hơn các thành tựu công nghệ vào toàn bộ nền kinh tế. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực sản xuất mới; trí tuệ nhân tạo đang trở thành lực lượng sản xuất mới; còn đổi mới sáng tạo đang trở thành phương thức chủ yếu để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định trong việc hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ. Cùng với đó là các dòng vốn chất lượng cao gắn với nghiên cứu phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Mục tiêu của mô hình tăng trưởng mới không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn mà là nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Đây chính là nền tảng để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Phóng viên: Theo ông, làm thế nào để Việt Nam có thể tận dụng hiệu quả các động lực tăng trưởng mới để Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030? Việt Nam có thể học được những bài học kinh nghiệm gì từ các quốc gia châu Á chuyển đổi nền kinh tế thành công, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và gia nhập vào nhóm quốc gia phát triển?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Để khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục đột phá về thể chế, trong nền kinh tế tri thức, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà còn là một nguồn lực phát triển. Cần xây dựng khung pháp lý thuận lợi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.
Thứ hai, ưu tiên nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những lĩnh vực trực tiếp tạo ra năng suất mới và nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng.
Thứ ba, chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D), các ngành bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ xanh và các dự án có khả năng liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước.
Thứ tư, phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, hình thành các doanh nghiệp có năng lực làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, công nghệ lõi và xây dựng thương hiệu trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Mặc dù có những con đường phát triển khác nhau, nhưng các nền kinh tế thành công ở châu Á đều có một điểm chung là chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên huy động nguồn lực sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo. Hàn Quốc thành công nhờ đầu tư mạnh cho R&D và phát triển các tập đoàn công nghệ toàn cầu; Đài Loan (Trung Quốc) lựa chọn đúng các ngành công nghệ mũi nhọn để tập trung nguồn lực phát triển; Singapore xây dựng thể chế minh bạch, môi trường kinh doanh thuận lợi và nguồn nhân lực chất lượng cao; Israel phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới; còn Trung Quốc đang chuyển mạnh từ “Made in China” sang “Created in China”, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, xe điện và kinh tế số.
Đối với Việt Nam, bài học quan trọng nhất là phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp sang từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu, thiết kế và thương hiệu.
Xét đến cùng, bản chất của đổi mới mô hình tăng trưởng là nâng cao đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây cũng chính là con đường để tạo ra năng suất mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, duy trì tăng trưởng cao, bền vững trong những thập niên tới và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Tin khác